Lá thư của một thiền sinh

Lá thư của một thiền sinh



Rừng thiền Pa-Auk, ngày... tháng... năm...
Kính thưa thầy!
Sáng nay trong lúc ngồi thiền, con đã khóc rất nhiều (rất tự nhiên) sau nhiều năm mình chưa khóc như vậy. Con cảm thấy một tình thương với đời sống vô bờ bến mà mình đã và đang có, con khóc vì sự biết ơn đối với cuộc đời, đối với mọi thứ và mọi người xung quanh đã mang đến những tháng ngày hạnh phúc, tươi đẹp và đầy ý nghĩa đã qua. Trong đó có cả tình thương đầy bao dung của thầy dành cho con trong những tháng ngày dìu dắt.
Thầy ơi, đã ba ngày rồi - trong con có suy nghĩ mạnh mẽ về việc sớm rời khỏi rừng thiền (ban đầu là định xong 3 tháng, rồi ráng đợi 2 tháng, nhưng bây giờ là 1 tháng thôi!).
Con đã quan sát suy nghĩ này những ngày qua, viết thư cho thầy rồi để đó, tập trung thiền định cho suy nghĩ nhất thời này dịu lắng xuống, có lúc cho nó tự do nổi lên để mình tĩnh tâm quan sát. Và sau sáng nay, con nghĩ cũng là lúc nên chia sẻ rõ để thầy soi sáng.

Từ những ngày đầu đặt chân đến đây, trong con nổi lên một nỗi sợ về sự cô lập, cắt đứt mọi kết nối với cuộc sống, với gia đình, bạn bè và bắt mình phải tuân thủ những hoạt động của đoàn thể, mình không còn tự do làm điều mình muốn, đi những nơi mình thích dù xa, dù gần.
Con đã xoa dịu, đưa ra những thuyết phục và cho ý nghĩ ấy xuống bên dưới hay tạm thời quên đi trong những lúc ngồi thiền, cố gắng định tập trung vào hơi thở. Đồng thời những lúc suy nghĩ, con sử dụng viễn cảnh của 3 tháng tới, một năm tới, 2 năm và 5 năm hành trình cùng thầy và đại chúng để giúp mình cố gắng, có mục đích và tập trung tu tập mỗi ngày.
Ngoài những giờ ngồi thiền tập trung hơi thở để định, con chán quá nên cứ để những suy nghĩ tự nhiên xen kẽ vô để mình dùng chánh niệm quan sát.
Tất cả là những khúc ký ức đẹp, ngắn 1-2 phút cứ chuyển qua và con cứ thế quan sát một cách rõ ràng, không chìm đắm vào chúng:
- Cơn mưa đầu mùa hè thơm mùi đất
- Những đêm trung thu rước đèn với đám bạn
- Ngày mùa đi tỉa đậu với ba
- Đêm hè một mình leo nóc nhà ngắm sao trời
- Tháng ngày học sinh
- Rồi cấp ba
- Đại học
- Đi làm, đi chơi
- Rồi những lúc bên bạn bè cà-phê, với người thân
- Những lúc la mấy đứa nhân viên
- Hay những buổi sáng gió mát, nắng vàng
- Những con đường mình đạp xe
lathu.jpg
                                                     Hướng về đường tâm linh - Ảnh: Pixabay
Và rất nhiều...
- Những buổi sáng trời mưa đi làm, gặm ổ bánh mì và uống ly cà-phê sữa đá
- Những vùng đất hoang vu mình đặt chân tới, với những con người nghèo nhưng đẹp bình dị như ở Lào, Sapa, Bagan, Cà Mau, Quảng Bình... Những nụ cười con nhớ mãi.
Sao tất cả quá đáng yêu, quá đẹp và an bình, có một vài lúc cô đơn (hầu hết là thời thơ ấu con tự chơi và tự suy nghĩ về cuộc sống một mình - ngoài những lúc quậy phá với chúng bạn) - tất cả rất rõ ràng và thực. Con tự hỏi liệu lúc ấy mình đã có mặt ngay thực tại đó để rồi chúng in sâu vào ký ức của mình như vậy!
Có phải vấn đề của con là quá yêu cuộc sống và quá tham lam dành trọn những điều đẹp đẽ ấy cho riêng mình, dù đã và đang cố gắng chia sẻ, phải vậy không thầy?
Con cố gắng cày xới tâm mình để tìm kiếm những hạt giống của tham lam, ganh ghét, đố kỵ, hay nỗi sợ hãi (nỗi sợ bị cô lập và tách rời cuộc sống thì con đã nhận diện) như mọi người và thầy hay nhắc tới khi ngồi thiền nhưng con không thấy, có phải là con chưa thực tập đủ lâu hoặc chưa có cơ hội để chúng lộ diện? Có phải vì không có gì nên con thấy buồn chán và thoái chí trong lúc thiền, hay là chưa có cơ hội cho chúng trồi lên? Hay tại con tự huyễn hoặc mình là không có để đè nén chúng ở nơi nào đó?
Con không tìm thấy những tàn dư của cơn giận. Hầu hết trong đời sống con giận, nói xong là mất vết tích luôn, về sau này có kiểm soát được nên nó chỉ hơi biểu lộ trên mặt.
Càng nghe những bài pháp thoại của thầy, con càng thấy rất đúng những gì mình áp dụng, và hiệu quả cực kỳ, chỉ muốn đi về, quay trở lại cuộc sống ngay lập tức để lăn xả, áp dụng liền, một cách đầy sâu sắc và chững chạc hơn. Có phải con đã quá vội vàng, tự tin khi nội lực mình vẫn còn yếu và thiếu kiên nhẫn?
Con nhận ra một điều, hy sinh cuộc sống của mình cho nhiều người không có nghĩa là từ bỏ đi niềm vui cuộc đời mình, mà là làm sao bớt nghĩ hơn về mình, làm điều hay cho mọi người cũng là hy sinh đẹp, mà thật ra thì lúc ấy đã không có gì là hy sinh nữa. Đó chính là sống cho riêng mình.
Những kỳ vọng con tô vẽ cho hành trình trở thành vị thầy tâm linh, chuyên gia tâm lý trị liệu của mình đã chính thức sụp đổ sau những ngày con đối diện với thực tại và quan sát nó. Con đường quá khác so với mình nghĩ, tưởng tượng và tự thuyết phục mình. Hoặc là quá khác so với sức chịu đựng của mình. Đó là con đường Tĩnh mà con đã hy vọng có nhiều Động trong ấy.
Con đã nhìn ra việc từ bỏ công việc, tạm thời chuyển sang con đường tâm linh tĩnh lặng đột ngột là do nung nấu lâu nay, và cũng là phục vụ cho cái ngã muốn chứng tỏ mình làm được. Có thể là chứng tỏ với chính bản thân mình.
Con đã quay lại thực tại với công việc đầu bếp dinh dưỡng, chia sẻ cách ăn đúng để bảo vệ sức khỏe, sống tử tế để đẹp, ý thức bảo vệ môi trường và an thuận tự nhiên.
Con quan sát những gì mình đã và đang, có khả năng đóng góp cho cộng đồng một cách ý nghĩa, dù chỉ mới bắt đầu nhưng đó là hướng đi cần thiết.
Con sẽ học thêm chuyên môn, lấy bằng để tiếp tục con đường vững chắc. Song song sẽ tu tại gia, học và hành thiền theo thầy, rèn luyện sức khỏe, học yoga, và chia sẻ những năng lượng tốt và gieo duyên cho mọi người. Con sẽ nuôi dưỡng tĩnh trong động để cân bằng và cho tĩnh năng lượng của động để lan tỏa. Có thực tế không thầy?
Dù không đi cùng thầy và đoàn thể nhưng con sẽ là hậu phương và dõi theo mọi người, có lúc lại là đi đầu chiến trường để lan tỏa cho cộng đồng. Biết đâu rồi con sẽ về lại con đường cùng thầy ở những năm sau...
Theo PGNĐ

Lịch sử Làng Mai


Lịch sử Làng Mai


Làng Mai là một trung tâm thiền tập tọa lạc tại miền Tây Nam nước Pháp được hình thành vào đầu năm 1982. Làng Mai tiếng Pháp là Village des pruniers, tiếng Anh là Plum Tree Village, gọi tắt là Plum Village. Tên chữ của Làng Mai là Đạo Tràng Mai Thôn.

Tại Làng Mai có ba ngôi chùa: Chùa Pháp Vân, Chùa Từ Nghiêm và chùa Cam Lộ. Chùa Pháp Vân là thiền viện dành cho các vị nam xuất gia. Chùa Từ Nghiêm và chùa Cam Lộ là thiền viện dành cho các vị nữ xuất gia. Ngoài ra Làng Mai còn có nhiều trung tâm khác tại Việt Nam, Mỹ, Đức, như : Tu viện Lộc Uyển, tu viện Bích Nham, tu viện Rừng Phong, trung tâm tu tập Thanh Sơn, tu viện Bát Nhã, tu viện Từ Hiếu, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, chùa Đại Bi. Hiện nay trung tâm tại Úc và tại Thái Lan đang dần hình thành và đi vào hoạt động.

Hiện nay (năm 2009) số lượng qúy thầy quý sư cô đệ tử của Sư Ông Làng Mai đang cư trú tại các trung tâm trên khắp thế giới đã lên tới gần 700 vị, thuộc 30 quốc tịch khác nhau. Làng Mai cũng là Viện Cao Đẳng Phật Học, nơi đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và tại gia. Tại các trung tâm thuộc Làng Mai, ngoài các vị xuất sĩ ra còn có các vị cư sĩ cùng tới tu tập chúng rất tinh chuyên.
Mỗi năm tại Đạo Tràng Mai Thôn tổ chức nhiều khóa tu lớn như: Khóa tu mùa hè, khóa tu mùa thu, khóa tu mùa đông, khóa tu 21 ngày, khóa tu cho những người nói tiếng Pháp, tiếng Ý…, và những khóa tu cho các giới như: Khóa tu cho giới cảnh sát, khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu, khóa tu cho giới nghệ sĩ... do đích thân Sư Ông Làng Mai đứng ra hướng dẫn giảng dạy. Ngoài ra hàng năm Sư Ông Làng Mai cùng tăng thân của mình luôn có những chuyến hoằng pháp khắp nơi trên thế giới.

Phật đường

Những câu chuyện hồi tưởng về Làng…

Trước đây Làng Mai có tên là Làng Hồng vì ở đây có trồng nhiều cây hồng ăn trái. Sau đó 1250 cây mai thuộc loại pruniers dAgen, đã được trồng bằng tiền của các em thiếu nhi gốc Việt Nam về tu học. Mỗi em được bố mẹ cho tiền để trồng một cây. Cái tên Mai Thôn rất đẹp vì vậy chúng tôi đã đổi tên Làng Hồng thành Làng Mai, vì thực tế ở đây chỉ có mấy chục cây hồng trong khi có tới 1250 cây mai. Sau bốn năm rừng mai bắt đầu cho trái, khi mùa xuân đến mai nở hoa rất đẹp. Cứ tới tháng tư chúng tôi lại tổ chức Ngày Hội Hoa Mai. Dưới những gốc mai có trà, có bánh, có nhạc, có thi ca.
Ở Làng Mai có hai ngày hội hoa, đó là Hội Hoa Mai và Hội Hoa Thủy Tiên. Hội Hoa Mai có thể  tổ chức tại chùa nào cũng được vì cả ba chùa đều có rừng mai. Ở Xóm Hạ thì rừng mai đó chính thức là của mình, còn Xóm Thượng và Xóm Hạ thì không phải là của mình, đó là rừng mai của nhà hàng xóm. Nhưng những người hàng xóm tốt bụng này luôn sẵn sàng cho phép mình đi thiền hành hoặc tổ chức Hội Hoa Mai tại đó. Còn ngày Hội Hoa Thủy Tiên thì luôn luôn được tổ chức tại Xóm Thượng vì vào cuối tháng ba tại đây có hàng ngàn, hàng chục ngàn bông thủy tiên nở. Chúng tôi chưa bao giờ trồng những bông thủy tiên ấy, chúng nằm sẵn ở khu đất gọi là Pháp Thân Tạng. Bình thường thì những củ thủy tiên năm sâu trong lòng đất tới mùa xuân nắng ấm chúng tự động vươn lên, hàng ngàn, hàng vạn đóa thủy tiên rung rinh khoe sắc trong gió xuân. Chúng tôi thường tổ chức Hội Hoa Mai vào cuối tháng ba hoặc đầu tháng tư, sau đó khoảng nửa tháng thì chúng tôi tổ chức Hội Hoa Thủy Tiên. Nếu về Làng Mai trong thời gian này quý vị sẽ được dự những ngày hội rất nên thơ.

Sáu Cây Tùng Lọng

Ngày 28/9/1982, chúng tôi tìm ra được Xóm Hạ. Trước khi tìm ra Xóm Hạ thì chúng tôi đã tìm ra Xóm Thượng nhưng ông chủ của Xóm Thượng không chịu bán đất. Ông có một người con trai. Vợ ông ta muốn bán đất cho Làng Mai để lấy tiền cho con trai làm vốn. Nhưng ông Dezon, chủ của khu đất thì không muốn vì ông rất yêu quý mảnh đất ấy, ông vốn là một người nông dân nên không nỡ buông mảnh đất đã gắn bó với mình suốt bao năm trời. Lần đầu đến thăm Xóm Thượng tôi ưng ý ngay lập tức vì Xóm Thượng rất đẹp, tôi rất thích con đường thiền hành ở đó. Nhưng vì chủ nhà  chưa chịu bán nên chúng tôi đành phải tìm một chỗ khác, và chúng tôi đã tìm ra Xóm Hạ. Mặc dù tìm được Xóm Hạ rồi nhưng chúng tôi vẫn muốn có Xóm Thượng nên vẫn tiếp tục theo đuổi Xóm Thượng. Năm đó có nhiều mưa đá nên vườn nho của ông Dezon bị hư hoại vì vậy ông ta rất bực mình tăng giá đất lên cao. Thật ra ông tăng giá đất không phải để có nhiều tiền mà tăng để cho mình khỏi mua, vì ông vẫn không muốn bán. Nhưng mình ưng quá nên dù đắt vẫn mua.
Chúng tôi quyết định mở cửa Làng ngay năm đó, tức là năm 1983, mua đất vào mùa đông năm 1982 và mở cửa làng vào mùa hè năm 1983. Vì vậy từ mùa đông 1982 tới mùa hè 1983 thầy trò phải làm việc khá nhiều. Trước đó, mỗi mùa hè chúng tôi mở cửa ở Phương Vân Am cho thiền sinh tới tu tập. Phương Vân Am nằm ở miền Đông Nam của Paris. Nhưng am nhỏ quá, không tiếp đón được nhiều thiền sinh. Thế nên thầy trò tôi đã đi về miền Nam kiếm đất để làm một trung tâm tu học có thể tiếp đón được nhiều người. Bài thơ "Ảo hóa" đã được tôi làm ở Phương Vân Am. Hồi đó không gọi là Làng Mai mà gọi là Làng Hồng tại vì tôi còn hoài niệm về Làng Hồng ở Việt Nam. Làng Hồng là một trung tâm tu học mà Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và Dòng Tiếp Hiện dự trù thành lập để làm chỗ tu dưỡng cho những người tác viên xã hội. Hồng đây có nghĩa là cây hồng, trái hồng chứ không phải là hoa hồng.
Thật ra trước đó chúng tôi đã có Phương Bối Am ở miền cao nguyên Trung phần, ở Blao. Nếu quý vị từng đọc cuốn  Nẻo Về Của Ý và từng đọc Fragrant Palm Leaves hay là Feuilles odorantes de Palmier thì quý vị đã biết chút ít về Phương Bối Am. Phương Bối Am cũng là một loại Làng Hồng, được thành lập vào những năm 1950, nơi đây cũng là một trung tâm tu học. Nhưng vì nó cách thành phố xa quá đi, nên Dòng Tiếp Hiện và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã muốn có một Làng gần hơn. Khi viết quyển Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức tôi cũng đã có nói tới Làng Hồng và mãi tới tám năm sau thì điều tiên đoán trong Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức được thực hiện. Chúng tôi “tậu” được Làng Hồng. 
Ban đầu chúng tôi tính trồng hồng nhưng thấy không thực tế nên cuối cùng đã chuyển sang trồng mai. Chúng tôi còn khá ngây thơ, nghĩ là nếu trồng nhiều mai thì đó là một nguồn kinh tế tự túc. Nhưng vốn không phải là nông dân chuyên nghiệp nên chúng tôi đã không thành công lắm. Chúng tôi đã hưởng hoa nhiều hơn là trái. Hồi ấy sư cô Chân Đức từng ghi tên học tỉa mai một tuần lễ và cô cũng có khả năng tỉa mai, nếu không tỉa thì mai không thể lớn lên được và không có trái. Nhưng sức của cô chỉ tỉa được vài chục cây là cùng trong khi mình có tới 1250 cây mai.
Chúng tôi bắt đầu trồng mai ngay vào năm đầu của Làng mở cửa, tức là năm 1983. Trong số những cây mai được trồng đó có những cây được trồng bằng tiền túi của các em thiếu nhi về Làng tu học. Các em nghe rằng trong bảy năm mai sẽ có trái, trái đó sẽ được phơi khô, bán và lấy tiền gởi về nuôi trẻ em đói ở Việt Nam và những nước nghèo đói. Vì vậy nhiều thiếu nhi đã để dành tiền túi mà trồng cây mận. Hồi đó mỗi cây mận mang tên một em bé Việt Nam hay một em bé ngoại quốc nhưng số lượng các em bé Việt Nam đông hơn. Mỗi em phải có 35 quan Pháp thì mới có thể trồng được một cây mai. Còn nếu không có đủ 35 quan Pháp thì em phải chung vốn với một em khác mới có thể trồng được một cây ở Làng Mai, nghĩ rằng cây đó để nuôi trẻ em đói nên các em rất vui sướng. Và chúng tôi đã cố gắng để trồng đủ số lượng 1250 cây. Đó là con số của tăng đoàn nguyên thủy của Bụt. Vào tháng 5 năm 1983, chúng tôi ấn hành tập: Sổ Tay Của Người Về Làng bằng tiếng Việt, sau đó mấy tháng cuốn sách ấy được ấn hành bằng tiếng Anh.
Đầu năm 1983 trên Xóm Thượng chúng tôi bắt đầu trồng cây. Những cây đầu tiên là tùng lọng, phía trên của cây tán xòe ra như một cái lọng. Hôm đó chúng tôi đã trồng được sáu cây tùng lọng dưới sự cộng tác của một bác nông dân trong vùng cùng với chiếc máy đào đất. Đất Xóm Thượng toàn đá, đào tới đâu là có đá ở đó nên phải có máy mới đào được. Ngày hôm ấy trời mưa và mọi người đều ướt nhẹp. Sau khi trồng xong tùng lọng thì tôi ngã bệnh và nằm luôn ba tuần lễ. Trong Làng ai cũng lo. May quá, sau đó tôi dậy được và bắt đầu ăn cháo.

Thiền hành - Xóm Hạ - Làng Mai

Khóa tu mùa hè gọi là Summer Opening. Mùa hè đầu tiên có 117 thiền sinh về tu học. Trong mùa tu học này chúng tôi chưa có thiền lạy, chưa có thi kệ nhật dụng nhưng đã có thiền tọa, thiền hành, thiền trà và tham vấn. Hồi đó chưa có các thầy các sư cô nên tôi phải hướng dẫn thiền sinh từ đầu tới cuối, từ A tới Z. Từ thiền ngồi qua thiền trà đến thiền hành. Tôi phải đi sửa lưng của từng người cho thẳng, đầu của từng người cho ngay ngắn. Hồi đó chưa có cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ tức là tập sách viết về phương pháp thiền đi. Trước khi Làng mở cửa đã có một Lá Thư Làng Mai, nhưng hồi đó gọi là Lá Thư Làng Hồng. Lá Thư đó chỉ có 3 trang nhưng đọc cũng vui lắm.
Tôi xin đề nghị Tết này mình sẽ photocopy Lá Thư Thứ Nhất, Lá Thư Thứ Hai, Lá Thư Thứ Ba dán lên tường cho mọi người đọc. Các bạn của chúng ta sẽ biết những gì xảy ra trong năm đầu của Làng Mai. Những chi tiết như tôi trồng xong tùng lọng và ngã bệnh nằm luôn ba tuần cũng được ghi chép trong ấy. Mùa thu năm đó có Lá Thư Làng Hồng Số Hai, tường thuật đầy đủ về những gì đã xảy ra trong khóa tu mùa hè khiến mọi người rất hạnh phúc.
Ngay mùa hè đầu tiên mà đã có thiền sinh Tây phương về tu chung với người Việt. Vào mùa hè thứ hai có 232 người về tu, mùa hè thứ ba có 305 người, mùa hè thứ tư có 396 người, mùa hè thứ năm có 452 người, mùa hè thứ sáu 463 người, mùa hè thứ bảy 483 người, mùa hè thứ chín 1030 người. Tới 1996 thì vào mùa hè có 1200 người về. Vào mùa hè 1998 có 1450 người về Làng tu học. Mùa hè 1999 thì có 1500 người và vào năm 2000 thì số lượng thiền sinh tăng lên 1800. Cố nhiên không phải là 1800 người về Làng một lần, tại vì có người chỉ về hai tuần, có người về ba tuần, có người về một tuần, và có người về luôn bốn tuần. Có người về hơn bốn tuần vì sau khi về bốn tuần thì thấy thích quá nên đòi ở lại. Nói như vậy không có nghĩa là thiền sinh chỉ về mùa hè. Trong các mùa khác cũng có thiền sinh về để tu học. Những năm đầu thiền sinh ngoại quốc được ở Xóm Thượng. Thiền sinh gốc Việt Nam và Á châu thì ở Xóm Hạ để được ăn thức ăn quê hương.
Những cây tùng gọi là Cedre Atlantica mà quý vị thấy ở Xóm Thượng cũng được trồng vào năm đầu. Hồi mới trồng chúng chỉ cao có 1m20. Những cây đó lên chậm lắm và càng lớn chúng càng đẹp. Ba trăm năm nữa thì sẽ rất đẹp. Cedre Atlantica dịch là Tùng Đại Tây, có hai loại: một màu lục, một màu lam. Mỗi khi đi thiền hành ở Xóm Thượng chúng ta đều xuất phát từ cây tilleul, cây bồ đề. Qua thiền đường Chuyển Hóa, chúng ta gặp bên tay phải những cây tùng đại tây, những cây Cedre Atlantica. Bây giờ chúng đã đẹp rồi. Mỗi khi đi ngang qua những cây tùng đại tây đó tôi hay nghĩ tới các sư chú, các sư cô. Tôi thường hay đứng lại để ca ngợi "sư chú này làm ăn khá quá", tại vì các cây tùng đó lên rất tốt tươi, rất xinh đẹp. Tôi thường nhìn và thấy đó là một sư chú hay một sư cô đang lớn lên rất mạnh khỏe trên đất Làng Mai. Mỗi khi đi ngang qua chúng tôi hay dừng lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cây tùng ấy. Hai mươi năm qua, bây giờ các cây tùng ấy đã lớn, không còn là những cây tùng nhỏ bé một thước hai như ngày xưa. Ở Làng Mai cũng có nhiều cái đã lớn như các cây tùng. Không những là các sư cô sư chú đã lớn, các Phật tử cư sĩ đã lớn, mà những pháp môn thực tập cũng lớn lên. Cả những kinh nghiệm học hỏi và thực tập của mình cũng lớn như những cây tùng.

Con đường thiền hành

Làng Mai vô tướng
Năm 1983, đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống tôi đã thấy hoa mai nở trắng cả đồi. Đó là cái nhìn trong bản môn.
Bây giờ chúng tôi đã có thêm các trung tâm Làng Mai tại Mỹ, Việt Nam, Đức, Thái Lan, Úc.

Có nhiều người khi tới Làng Mai rất ngạc nhiên vì nó không giống với những gì mà họ tưởng tượng. Có thể trong đầu quý vị ấy nghĩ rằng Làng Mai chắc phải ghê gớm lắm. Đối với phái đoàn của Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, chúng tôi đã cảnh báo trước với họ rằng bên chúng tôi không có gì hết, chỉ toàn là cây thôi, thiền đường và tăng xá được xây dựng lại từ chuồng bò. Đã nói rất nhiều lần mà khi qua tới họ vẫn còn ngạc nhiên như thường. Họ không ngờ Làng Mai lại nghèo, đơn sơ và thanh bạch như thế. Tôi nhớ hồi xưa khi hòa thượng Tắc Phước ở bên Úc qua, ngài đem theo một cái máy thu hình (camcorder). Khi tới Làng ngài rất ngạc nhiên và nói: "Làng Hồng không có gì hết à?" Mà đúng là Làng Hồng không có gì hết: không có một mái chùa cong, không có một tượng Phật lớn. Vì vậy cho nên ý niệm của bạn về Làng Mai và sự thật về Làng Mai rất khác nhau.
Hồi hòa thượng Minh Cảnh sang thăm viếng Làng Mai. Ngài mới tới đây độ chừng hai tuần hay ít hơn hai tuần. Ngài nói: "Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một rờ." Ngài đã thấy, ngài đã rờ, nhưng mà chưa chắc ngài đã biết được sự thật về Làng Mai. Thượng tọa Nguyên Chơn tới trước, và cố nhiên cái thấy của Thượng tọa đã khác với cái thấy của hòa thượng vì thượng tọa Nguyên Chơn đã có cơ hội thấy những yếu tố không phải Làng Mai của Làng Mai. Nhìn vào Làng Mai như thế nào để thấy được những yếu tố không phải Làng Mai của Làng Mai. Thượng tọa Nguyên Chơn đã được đi Hoa Kỳ, đã được tiếp xúc với tăng thân của Làng Mai ở Hoa Kỳ, và vì vậy thượng tọa thấy được Làng Mai sâu hơn hòa thượng Minh Cảnh. Nhưng thượng tọa Giác Trí lại đã được thấy Làng Mai sâu sắc hơn vì thượng tọa Giác Trí đã được đi theo những chuyến hoằng pháp tại Châu Âu, đã đi Đức, đã đi Ý, đã thấy được tăng thân Làng Mai tại Đức, tại Ý; và vì vậy cái thấy của thượng tọa Giác Trí đã rất khác. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta có một cái thấy về Làng Mai.

Thầy Pháp Cần lớn lên ở bên Đức, học ở bên Đức và qua tu ở Làng Mai. Năm vừa rồi được tháp tùng phái đoàn đi Đức, thầy Pháp Cần đã khám phá ra một nước Đức rất mới. Trong suốt những năm ở Đức thầy ấy chưa bao giờ được tiếp xúc với tăng thân Làng Mai ở bên Đức. Về Đức lần này thầy thấy rõ ràng rằng ở bên Đức số lượng những người Việt và những người Đức tu học theo pháp môn Làng Mai rất đông. Có những pháp thoại ba ngàn người Đức tham dự, có những pháp thoại bảy ngàn người Đức tham dự, có những buổi thiền hành bốn ngàn người Đức tham dự. Trở về nước Đức, thầy khám phá ra một nước Đức hoàn toàn mới lạ. Làng Mai đang nằm trong nước Đức thế nhưng ở bảy, tám năm bên đó mà thầy không thấy. Chúng ta phải tìm thấy sự thật bằng con mắt vô tướng.
Những yếu tố không - phải – Làng - Mai nằm ở khắp nơi, nằm ở trong lòng mình. Thầy Pháp Đôn cũng vậy, lớn lên ở tiểu bang Florida, đã đi chùa bên đó, đã được gặp tôi trong một khóa tu bên Mỹ, đã qua Làng tu học. Mùa thu vừa rồi được tháp tùng tôi và phái đoàn đi Mỹ, thầy đã khám phá ra một nước Mỹ rất mới. Tại vì lần đầu tiên thầy được tiếp xúc với tăng thân Làng Mai ở bên Hoa Kỳ, khắp nơi, khắp nơi. Vì vậy, tới đây với một cái camcorder để thâu hình chưa chắc thâu được Làng Mai. Làng Mai không phải là một ngôi chùa Việt Nam đặt trên mảnh đất Âu châu. Trong Làng Mai ta thấy có văn hóa Ấn Độ, ta thấy có văn hóa Trung Quốc, ta thấy có văn hóa Việt Nam, ta thấy có văn hóa Tây phương. Vì vậy nhìn Làng Mai cho kỹ ta thấy có những yếu tố không phải là Làng Mai nằm ở trong Làng Mai. Cho nên Làng Mai cũng là một đối tượng thiền quán. Nhìn càng sâu, ta thấy càng rõ. Nếu không thì nhìn Làng Mai ta chỉ có một khái niệm rất cạn, rất mơ hồ về Làng Mai. Nếu nhìn Làng Mai cho kỹ thì mình thấy Làng Mai cũng bất sinh và bất diệt.

Ngày xưa khi đi thăm tu viện Kỳ Viên, Jeta Grove, ở Ấn Độ tôi thấy tu viện Kỳ Viên không còn nữa. Có một phái đoàn khảo cổ Nhật đang khai quật khu đất tu viện Kỳ Viên, phát hiện ra nền móng của nhiều tu viện san sát nhau. Tất cả tu viện Kỳ Viên đều đã bị san bằng theo thời gian và đất cát đã phủ lấp lên. Bây giờ nhờ đoàn khảo cổ đó khai quật nên chúng ta mới thấy rõ ràng những tu viện rất lớn nằm bên nhau san sát. Chúng ta nhận ra được đây là chánh điện, đây là tăng xá, đây là giảng đường. Nhưng tu viện Kỳ Viên đâu phải không còn? Vì khi chúng ta đi qua các nước khác, thấy các tu viện ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên hay Tây Tạng thì chúng ta lại thấy rằng Kỳ Viên vẫn còn đó trong những hình thức mới của nó. Vì vậy Kỳ Viên tính là bất sinh bất diệt. Làng Mai cũng vậy. Ví dụ ngày mai này họ đóng cửa Làng và có người xây cất siêu thị ở Xóm Thượng và Xóm Hạ thì Làng Mai vẫn còn, còn dưới những hình thái mới của nó ở khắp nơi, nhất là trong lòng chúng ta. Vì vậy, tới Làng Mai, ta phải nhìn Làng Mai cho kỹ để thấy được tính bất sanh bất diệt của Làng Mai, thấy thực tại của Làng Mai vượt ngoài các tướng.

Theo langmai.org

Thiền Định-Thiền Tuệ



Khai Thông 


Thiền Định (Samatha) và 


Thiền Tuệ (Vipassanā)


Tác giả: Thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw
và Tiến sĩ Mehm Tin Mon
Tâm chánh dịch

LỜI NÓI ĐẦU


Hai bài thuyết trình có tựa đề “Khai Thông Thiền Định (Samatha Bhāvanā)” và “Khai Thông Thiền Tuệ (Vipassanā Bhāvanā)” đã được đọc và thảo luận với sự quan tâm to lớn tại Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Yangon, Myanmar, từ ngày 9/12 đến ngày 11/12 năm 2004, đã được in và xuất bản dưới hình thức cuốn sách hiện tại này vì sự lợi lạc của công chúng là những người muốn biết một sự giải thích ngắn gọn và súc tích về các khía cạnh thực hành của Đạo Phật được gọi là Samatha–Vipassanā.  

Hai bài thuyết trình thực sự miêu tả tóm tắt cốt yếu về Thiền Định và Thiền Tuệ đang được hướng dẫn theo từng chi tiết nhỏ một cách nghiêm ngặt theo đúng Giáo Pháp của Đức Phật tại các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk trên toàn nước Myanmar.

Cuốn sách này giới thiệu với độc giả cách thọ trì đúng đắn thiền Samatha – Vipassanā (Định – Tuệ) như đã được Đức Phật giảng dạy, tu tập chánh định và thâm nhập vào các thực thể tột cùng (ultimate realities) được gọi là “Paramattha”, xác định từng thực thể tột cùng một cách chính xác theo đặc tính, nhiệm vụ, biểu hiện và nhân gần nhất của nó, thẩm sát các mối quan hệ nhân – quả theo Pháp Duyên Khởi (Pa iccasamuppāda – Duyên Sinh) là cái đã vẽ nên vòng tái sanh một cách hoàn hảo và quán tất cả danh và sắc (nāma – rūpa), các nhân và các quả, bên trong và bên ngoài thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) theo nhiều cách khác nhau. 

Nội dung và phạm vi của hai bài thuyết trình sẽ mô tả một cách rõ ràng rằng thiền Samatha–Vipassanā đang được giữ gìn và thực hành hoàn toàn ở nguyên bản thuần khiết ở nước Liên Bang Myanmar. Thực vậy Myanmar gìn giữ và bảo vệ toàn bộ giáo pháp của Đức Phật cả về pháp học lẫn pháp hành (Pariyatti và Pa ipatti) và có thể chia sẻ với thế giới vì sự lợi lạc của toàn thể nhân loại. 
Thọ trì Thiền Định để tu tập chánh định và thực hành Thiền Tuệ để tu tập tuệ đến mức độ cao nhất nghĩa là đi trên con đường cao thượng nhất dẫn đến an lạc vĩnh cửu và hạnh phúc bất diệt gọi là Nibbāna. Mọi người được chào đón tham gia vào nhiệm vụ cao thượng đầy hoan hỷ này, điều mà chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn ngay trong kiếp sống này    

Xem thêm tiểu sử đại trưởng lão: Pa- Auk tawya Sayadaw  





TIỂU SỬ THIỀN SƯ AJAHN CHAH

TIỂU SỬ THIỀN SƯ AJAHN CHAH




Ngài sinh ngày 17 tháng 6 năm 1918 tại một ngôi làng nhỏ nằm gần thành phố Ubon Rajathani thuộc Ðông Bắc Thái Lan. Học xong tiểu học trường làng, Ngài đi tu sa-di ba năm rồi trở về phụ giúp gia đình. Gia đình Ngài sống bằng nghề nông.
Năm tròn hai mươi tuổi, ngày 26 tháng 04 năm 1939, Ngài quyết định xuất gia trở lại và lần này tu luôn giới phẩm Tỳ kheo. Xuất gia xong, Ngài được tham dự các khóa học giáo lý và ngôn ngữ Pali. Năm năm sau, phụ thân ngài qua đời và cũng vào lúc này Ngài nhận được mãnh bằng tốt nghiệp xuất sắc môn Pali. Một phần do tác động tâm lý từ cái chết của cha, Ngài bất chợt nhìn thấy cái buồn thiu vô vị của cuộc sống và thế rồi, từ bỏ mọi thứ đang có. Ngài quyết định thực hiện một cuộc đi đường dài của một người du sĩ.
Ðể tới được Trung bộ Thái Lan, Ngài đã trải qua 400 km bằng đôi chân gió bụi. Trong suốt thời gian ấy, không ít đêm Ngài phải ngủ lại giữa rừng sâu và thức ăn đi đường chỉ có được bằng cách khất thực tại những xóm làng mình đi qua. Rồi như một cơ duyên hãn hữu, ngài đã tình cờ ghé ngang một ngôi chùa và chính tại đây được tham kiến thiền sư Ajahn Mun Bhùridatta, một thiền sư thời danh và cũng vô cùng lỗi lạc.
Ngài Ajahn Chah quyết định dừng bước để cầu pháp. Ngài học cẩn thận pháp môn thiền định với thầy nhưng tự đáy lòng chẳng hiểu sao cứ thấy có gì đó bất ổn. Dường như hiểu được gút mắt này trong lòng Ngài nên thiền sư Ajahn Mun đã gợi ý một vấn đề hết sức quan trọng: “Giáo lý của Ðức Phật tuy được trình bày bao la nhưng để đi vào đáy sâu nội tâm của mỗi người thì chỉ có một con đường duy nhất mà cũng hết sức đơn giản đó là một khi có được khả năng chánh niệm đối với những gì diễn ra trong lòng mình thì tất cả sự thật tự lộ diện …”. Chính câu nói khai thị này đã phơi mở cho Ngài Ajahn Chah một lối về ngắn nhất với pháp môn Thiền Quán.
Suốt bảy năm dài sống hạnh đầu đà trong rừng sâu, ngài Ajahn Chah đã có nhiều cơ hội học hiểu bản chất cuộc đời qua quá nhiều thử thách chết người trong nếp sống thường nhật. Những khu rừng Ngài đi qua đều nổi tiếng là nguy hiểm với những mãnh thú và độc trùng. Có đêm kia, giữa rừng già hoang vu, Ngài đã một mình ngồi thiền dưới cơn bão lớn để có thể thấm thía tận cùng niềm cô đơn vô biên của kiếp sống không nhà.
Năm 1954, sau những tháng ngày trôi dạt, Ngài đã được mời về thăm lại quê hương, cũng vẫn ngôi làng nhỏ của ngày xưa. Thiền sinh các nơi tìm về cầu pháp ngày càng đông dần và một ngôi thiền viện được ra đời trong một cánh rừng phụ cận, một nơi cũng nổi tiếng ma thiêng nước độc, và đó chính là thiền viện Wat Pah Pong hôm nay để từ cơ sở này, rất nhiều chi nhánh tiếp nối nhau thành lập.
Năm 1967, một vị sư người Mỹ đã tìm đến Wat Pah Pong. Vị này chỉ mới tu thôi và ngay mùa an cư đầu tiên đã chọn một ngôi chùa ở sát biên giới để tu thiền. Ðó chính là đại đức Sumedho. Dù mọi công phu không phải là vô bổ nhưng đại đức vẫn cảm thấy mình cần có một người thầy hướng dẫn cho đời tu được trọn vẹn hơn. Vào đúng thời điểm đó, thật tình cờ, một vị sư đệ tử của Ngài Ajahn Chah đến viếng ngôi chùa này và gặp gỡ Sumedho. Cũng may, vị sư người Thái đó cũng biết nói chút ít Anh ngữ, rồi vị này đã giới thiệu ít nhiều về thầy của mình với Sumedho. Thế là đại đức Sumedho lập tức lên đường tới tận Wat Pah Pong cùng vị sư người Thái mới quen.
Ngài Ajahn Chah đã nhiệt tình tiếp nhận sư Sumedho nhưng trước sau vẫn không quan tâm gì tới đời sống vật chất của người học trò da trắng này. Có nghĩa là sư Sumedho vẫn cứ phải đi khất thực để sống với những thức ăn thật khó quen miệng và dĩ nhiên cũng được hướng dẫn phép thiền theo cách vẫn áp dụng cho các thiền sinh bản xứ.
Phương pháp dạy thiền của Ngài Ajahn Chah tuy có phần khắt khe nhưng có một nội dung sâu sắc nhất định. Ngài luôn đặc biệt nhấn mạnh mục đích tĩnh lặng để thấu thị thực tại xuyên qua tất cả lao dịch chấp tác mỗi ngày và tinh thần thứ hai cho mọi sinh hoạt của tất cả thiền sinh luôn đặt nền tảng trên một từ “Giới Luật”.
Theo thời gian, cùng với những cơ duyên, ngày càng có thêm nhiều những nhà sư Tây phương tìm đến Wat Pah Pong. Lúc này đại đức Sumedho đã được năm hạ tỳ kheo cùng với một khả năng khá vững chải. Ngài Ajahn Chah quyết định giao phó cho đại đức trách nhiệm trông coi và hướng dẫn các nhà sư da trắng đó.
Mùa hè năm 1975, ngài Sumedho cùng các vị sư Tây phương đã tạm thời rời Wat Pah Pong để đến hành thiền trong một cánh rừng cách đó không xa. Thật bất ngờ khi dân chúng địa phương hết lòng hoan hỷ yêu cầu các vị tiếp tục lưu trú dài hạn và chính ngài Ajahn Chanh cũng đã cho phép các vị lựa chọn. Thế là thiền viện Wat Pah Nanajat (đa chủng tộc) đã được ra đời và Ngài Sumedho trở thành viện chủ ngôi tu viện đầu tiên dành cho các nhà sư Tây Phương.
Năm 1977, được Giáo Hội Phật Giáo Anh Quốc mời sang thăm viếng, ngài Ajahn Chah đã dắt đại đức Sumedho và đại đức Khemadhammo đi cùng. Thấy ở Anh Quốc có nhiều điều kiện hoằng dương, Ngài đã để hai người học trò ở lại chùa Hampstead ở Luân Ðôn rồi trở về Thái Lan. Ðến năm 1979 Ngài lại trở qua Anh khi hai vị đại đức học trò đã rời Luân Ðôn đi xây dựng thiền viện Chithurst ở Sussex. Sau đó Ngài còn sang tận Hoa Kỳ và Canada để thuyết giảng.
Chấm dứt chuyến đi, trở về Thái Lan vào năm 1981, sức khỏe của Ngài lại bắt đầu sa sút ngày một nhiều bởi chứng tiểu đường. Trong tình trạng đáng ngại như vậy, Ngài vẫn cố gắng bình tâm và luôn có ý lấy chính tấm thân của mình làm bài học thiền định cho các đệ tử. Cuối mùa an cư năm 1981, Ngài gần như không còn nói chuyện được nữa, các buổi thuyết giảng thưa dần và sau cùng Ngài coi như không thể cử động, phải nằm một chỗ nhưng sức mạnh nội tâm thì vẫn vô cùng mãnh liệt.
Ngài viên tịch vào tháng Giêng, 1992.

Sách hay: TÂM TĨNH LẴNG ( Achaan Chah)


Sách hay phật giáo: 

TÂM TĨNH LẶNG


Tác giả:

Thiền sư: ACHAAN CHAH

    Dịch giả: MINH VI

MP3 Xem tại đây



“Những lời dạy mạnh mẽ, nhưng giản dị, dễ hiểu của Achaan Chah đã tác động sâu đậm đến sự tu hành của chúng ta và phong cách mà chúng ta làm việc với người khác.” - Stephen Levine, tác giả của Who Dies?
“Những bài pháp ngắn gọn, dễ hiểu về pháp thiền của Phật giáo này vừa lưu loát, vừa cởi mở.”-The Institute of Noetic Sciences
“Với những lời dạy sáng suốt và lối diễn đạt khôi hài, Achaan Chah đã giúp cho những đầu óc phương Tây đạt đến nội tâm an lạc của sự buông bỏ.” - East-West Journal
Achaan Chah bắt đầu tu hành từ lúc còn thơ ấu. Ngài đã sống đời du tăng khất sĩ và tu khổ hạnh nhiều năm dưới sự hướng dẫn của nhiều thiền sư nổi tiếng. Ngài vui cười mà nói rằng từ lúc còn nhỏ Ngài đã muốn làm nhà sư trong khi những đứa trẻ khác thích làm nhà cửa, và Ngài thường giả bộ ôm bình bát đi tới những đứa trẻ khác để khất thực bánh kẹo. Nhưng sự tu hành của chính Ngài thì rất khó khăn, đòi hỏi sự nhẫn nại và kiên trì – đây là những phẩm chất mà Ngài muốn phát triển trong hàng đệ tử của mình. Sự kiện có tác động lớn lao đối với vị tăng trẻ tuổi Achaan Chah là lúc Ngài ngồi bên giường bệnh của cha trong những ngày cuối đời của ông ấy, trực tiếp đối diện với sự suy tàn và chết chóc. Achaan Chah dạy, “khi chúng ta không hiểu rõ về sự chết, chúng ta có thể cảm thấy đời sống rất rối rắm và hỗn độn.”
Kinh nghiệm này là một động cơ mạnh mẽ giúp Achaan Chah nỗ lực tu hành để khám phá nguyên nhân của sự khổ đau và nguồn cội của sự an lạc và giải thoát. Thế là Ngài rũ bỏ tất cả để tìm kiếm chân lý. Ngài đã trải qua rất nhiều khó khăn và đau khổ, đủ thứ nghi ngờ, cũng như bệnh hoạn. Nhưng Ngài kiên nhẫn ngồi trong rừng, ngồi mãi và quán xét mãi – mặc dù có những ngày Ngài chỉ khóc mà chẳng làm được gì cả, mà Ngài coi đó như một phẩm chất sẵn sàng đương đầu trong sự tu hành của mình. Sự đương đầu này, cuối cùng, đã đem đến cho Ngài trí huệ, niềm hỷ lạc, và khả năng kỳ diệu để giúp đỡ người khác.
Achaan Chah giảng dạy bằng hai ngôn ngữ Thái và Lào. Những lời dạy trong sách này nhằm vào những người đã từ bỏ cuộc đời thế tục, sống tu hành trong rừng. Tuy nhiên, cách giảng dạy trực chỉ và phổ thông ở đây cũng thích hợp cho mỗi người chúng ta. Achaan Chah đề cập đến những vấn đề căn bản của con người –đó là tham ái, sợ hãi, thù hận, và si mê, và nhắc nhở con người nhận thức những phiền não này và sự đau khổ mà chúng mang đến cho đời sống và thế giới của chúng ta.
Achaan Chah không ngừng nhắc nhở rằng mọi ràng buộc dẫn tới khổ đau. “Hãy học hỏi từ kinh nghiệm của bản thân. Hãy nhận thấy bản chất luôn thay đổi của hình sắc, âm thanh, mùi vị, cảm xúc, và tư tưởng. Hãy ý thức sự vô thường, bất an, vô ngã của cuộc sống.” Đây là thông điệp của Achaan Chah cho chúng ta, bởi chỉ khi nào chúng ta hiểu biết và thừa nhận cả ba đặc tính này, chúng ta mới có thể sống bình an. Truyền thống thiền trong rừng giúp chúng ta nhận biết và đối trị trực tiếp với ba tướng của thế giới hiện tượng này, với những sợ hãi, sân hận và tham muốn của chúng ta. Achaan Chah dạy chúng ta phải đối diện với những phiền não của chúng ta và dùng pháp xả bỏ, nhẫn nại, và tỉnh thức để khắc phục chúng. Chúng ta phải tập không để mình chìm đắm vào những cảm xúc và lo âu, và huấn luyện để nhận rõ bản chất thật sự của tâm và vật.
Lối giảng dạy trong sáng, vui tươi, và trực chỉ của Achaan Chah đem đến sự khích lệ và cảm hứng cho các đệ tử. Sống gần bên Ngài sẽ đánh thức trong ta tinh thần học hỏi, khôi hài, tò mò, và một cảm giác bình an sâu xa. Và nếu những trang sách sau có thể phản ảnh được phần nào tinh thần đó để giúp bạn tiến bộ trong sự tu hành, thì mục đích của nó đã được đáp ứng. Vậy thì hãy thận trọng lắng nghe Achaan Chah và ghi khắc vào tâm những lời dạy của Ngài, bởi vì Ngài dạy cách thực hành, không phải lý thuyết suông, và những điều Ngài dạy liên quan đến niềm hạnh phúc và sự tự do của con người.

TIỂU SỬ NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO PA-AUK TAWYA SAYADAW

TIỂU SỬ 
NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO 
PA-AUK TAWYA SAYADAW

Một thông tin vô cùng hoan hỉ, cho thấy duyên may và phước báu lớn lao của các Phật tử và hành giả Việt Nam: sau nhiều lần được thỉnh mời, Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng, Ngài Đại Trưởng Lão, Pa-Auk Tawya Sayadaw, Tôn Giả Āciṇṇa đã nhận lời đến thăm và chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên trong hành trình hoằng dương Chánh Pháp tại châu Á năm 2014. Từ ngày 25/4 đến ngày 30/4, Ngài sẽ đến Hà Nội và thăm viếng một số ngôi chùa tại miền Bắc như Chùa Sùng Phúc, Chùa Linh Thông, Chùa Bằng A, Chùa Kh’leang, Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, với sự cung nghinh của chư tôn giáo phẩm, chư tôn đức Tăng, chư Ni và đông đảo Phật tử. Từ ngày 30/4 đến ngày 5/5, Ngài sẽ nghỉ ngơi tại Đà Lạt, gặp gỡ Phật tử và các hành giả trước khi bay đi Jakarta, Indonesia để tiếp tục hành trình hoằng pháp. Nhân dịp này, chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu đến quý vị và các bạn Tiểu sử của Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw.
TIỂU SỬ BẬC ĐẠI THIỀN SƯ CAO THƯỢNG, NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO 
PA-AUK TAWYA SAYADAW, TÔN GIẢ ĀCIṆṆA
Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng, Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw, Tôn Giả Āciṇṇa được nhiều người biết đến với danh hiệu là “Tôn Giả Pa-Auk Tawya Sayadaw” (và trong các trường hợp ít nghi thức hơn thì gọi là “Pa-Auk Sayadaw”). “Sayadaw” trong tiếng Miến là một danh xưng để bày tỏ đối với những vị thầy đức hạnh, đáng tôn kính, đáng trọng vọng. Ngài là Viện chủ của Thiền lâm Pa-Auk, một hệ thống gồm những trung tâm thiền có quy mô lớn vào bậc nhất Myanmar. Thiền lâm Pa Auk có hơn 26 thiền viện chi nhánh trong cả nước Myanamar và khoảng 10 chi nhánh trên toàn thế giới. Tại hệ thống thiền viện này, Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trương một đạo lộ tu tập Giới – Định – Tuệ theo thứ lớp, dựa trên những chỉ dẫn rất chi tiết của Đức Phật Gotama trong Tam Tạng Thánh Điển Pāli và Bộ Chú Giải. Đạo lộ này lấy Giới làm nền tảng vững chắc ban đầu, thiền Định được tu tập và phát triển để sử dụng làm công cụ cơ bản hỗ trợ cho việc thực hành thiền Tuệ (Vipassanā) chân chính, giúp hành giả thể nhập và thấy được các đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của danh sắc chân đế và phát sinh Trí Tuệ. Hành giả sẽ lần lượt trải qua bảy giai đoạn thanh tịnh để đi đến sự giác ngộ và thấu triệt chân lý Tứ Thánh Đế.
THỜI THƠ ẤU VÀ XUẤT GIA LÀM SA-DI
Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw có thế danh là Aung Than, sinh năm 1934 ở làng Leik-Kyaung, thuộc thị xã Hin-Tha-ta (Haṇsāta), vùng châu thổ cách thủ đô Yangon khoảng 100 dặm về phía tây bắc. Song thân là ông U Pyu và bà Daw Soe Tin, cả hai đều là người Miến. Ngài là con thứ tư trong gia đình năm anh chị em. Có điều kỳ lạ là sau khi Ngài chào đời, cha mẹ Ngài làm ăn ngày một khấm khá hơn. Tuy không quá giàu có, nhưng cả gia đình có một cuộc sống tương đối an cư lạc nghiệp. Thuở thiếu thời, Aung Than vốn là người trầm lặng, ít nói, không làm phiền đến ai. Không chỉ vậy, cậu còn lễ phép với người lớn, và hiếu thảo đối với cha mẹ. Lúc lên sáu tuổi, Aung Than được bậc song thân gửi vào chùa làng học với Ngài Salin Sayadaw, Tôn Giả Soṇa.
Aung Than rất vui thích khi được ở trong tu viện, và chẳng nghĩ đến việc trở về nhà nữa. Khác với các cậu bé khác ở trong chùa, Aung Than không tụng đọc inh ỏi trong khi học bài mà chỉ xem qua chốc lát là thuộc nằm lòng. Vì thế cậu được Tôn Giả Soṇa và chư tăng trong chùa hết lòng yêu mến. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”; vì ở trong chùa gần Phật cạnh Tăng, bồ đề tâm của cậu bé thiếu nhi hội đủ nhân duyên để nảy mầm, lòng cung kính và đức tin trong sáng đối với Tam Bảo ngày một tăng trưởng. Aung Than muốn xuất gia trở thành sa-di (sāmanera) để học hành Phật Pháp và kết quả là vào năm 1944, cậu đã hoàn thành tâm nguyện của mình. Pháp danh của chú tân sa-di là Āciṇṇa. Thầy tế độ chính là Ngài trụ trì, Tôn Giả Soṇa. Đối với sa-di Āciṇṇa, việc xuất gia đầu Phật là sống suốt đời trong Giáo pháp của Đức Từ Phụ, và phải xa cách cha mẹ cũng như những người thân. Trong suốt thập niên tiếp theo, vị tân sa-di miệt mài học Pháp, trau dồi Tam Tạng Thánh Điển Pāḷi (bao gồm Tạng Luật (Vinayapiṭaka), Tạng Kinh (Suttantapiṭaka), Tạng Thắng Pháp (Abhidhammapiṭaka)) dưới sự chỉ dạy của nhiều bậc thầy khác nhau. Āciṇṇa đã đậu ba kỳ thi về ngôn ngữ Pāḷi trong khi vẫn còn là một sa-di.
NGHIÊN TẦM GIÁO PHÁP VÀ THỌ ĐẠI GIỚI
Vào năm 1954, sa-di Āciṇṇa vừa tròn 20 tuổi nên được cho phép thọ Đại giới tại Phật Học Viện Ye Kyi mới ở thị xã Hin-Tha-Ta do Ngài Tăng trưởng của phái Ye Kyi, Tôn Giả Pañña, làm thầy tế độ. Vị tân tỳ-kheo tiếp tục nghiên cứu Thánh Điển Pāḷi dưới sự hướng dẫn của các bậc danh tăng thạc đức.
Sau đó, Đại Đức Āciṇṇa trở lại Mandalay, trú tại Phật Học Viện Myin Wun ở thị xã Taung Pyin để tiếp tục theo học Pháp học với Ngài Viện Trưởng của Phật học viện Myin Wun, Tôn Giả Ukkaṃsa, Ngài Viện Trưởng của Phật Học Viện Thi-lin, Tôn Giả Suriya và Giáo Thọ Sư, Tôn Giả Paññānanda. Ngài cũng thọ giáo Ngài Viện Trưởng của Phật Học Viện Pha-ya-kyi, Tôn Giả Ariya, cũng như với hai giáo thọ sư là Tôn Giả Ukkaṃsa và Tôn Giả Kumāra.
Với tâm tầm cầu Giáo Pháp (Dhamma) dũng mãnh, Đại Đức Āciṇṇa miệt mài học hỏi và nghiên cứu Tam Tạng kinh điển Pāḷi. Vốn có trí nhớ sắc bén và nghiên cứu Phật học sâu rộng, nên những gì mà Đại Đức đã học được cho đến bây giờ vẫn không quên. Đại Đức cũng rất thông thạo văn chương Pāḷi.
Đặc biệt, sau khi nghiên cứu kỹ Tạng Luật, Đại Đức đã sống và thực hành nghiêm cẩn, đúng theo Giới Luật, không một mảy may khinh xuất. Sau thời gian ẩn tu cũng vậy, Đại Đức có thể học thuộc lòng một cuốn Luật trong vòng một tháng. Tuy nhiên vì nỗ lực trau dồi Pháp hành và chỉ ăn ngày một bữa, nên không thể dành thời gian và sức khoẻ để ôn lại những gì đã học, và Đại Đức cảm thấy khó khăn trong việc tụng lại cuốn thứ nhất sau khi mình đã học xong cuốn thứ hai.
Một lần, Đại Đức khiêm tốn nói với một soạn giả rằng: “Trí nhớ của sư không thể so sánh với trí nhớ của Ngài Đệ Nhất Tam Tạng, Tôn Giả Vicittasāra1 được. Ngài Tam Tạng Pháp Sư có thể nhớ nằm lòng một đoạn Pāḷi sau khi đọc qua ba lần; và mỗi khi thuộc nằm lòng rồi, Ngài vẫn còn nhớ trong vòng 21 ngày mà không cần phải ôn tụng lại”.
Đại Đức Āciṇṇa không những thông thạo Tạng Luật mà còn sống và hành theo Giới Luật nữa. Vì vậy ở thị xã Mu-don thuộc Mawlamyine, Đại Đức được biết đến như là một luật sư đương đại.
Năm 1956, vào lúc 22 tuổi, Đại Đức thi đậu bằng Dhammācariya danh tiếng, tương đương với bằng Cử nhân Phật Học Pāḷi và được tấn phong danh hiệu “Pháp Sư”. Năm 1957, Đại Đức đến Đại Phật Học Viện Ka-Ba-Aye tại Yangon để học thêm cả nội điển và ngoại điển suốt năm năm. Trong thời gian học tại đây, Đại Đức được học thêm Anh ngữ và các môn học khác để hổ trợ cho việc truyền bá Phật Pháp dưới sự hướng dẫn của Trưởng Ban Cố Vấn Tôn Giáo Chính Phủ, ông Phe Aun, ông Hla Maung, và của những vị nắm nhiều chức vụ quan trọng khác như ông Sao Htun Hma Win, ông Han The, ông San Myint Aung và ông Thein Aung.
Để được nhận vào Đại Phật Học Viện, Đại Đức Āciṇṇa phải qua kỳ thi tuyển. Sau khi trúng tuyển, Đại Đức tiếp tục thi bằng Diploma và đã đậu không có gì khó khăn. Sau mấy năm học, Đại Đức chuẩn bị bài vở để thi tốt nghiệp Cử nhân. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1962, các trường đại học bị đóng cửa, nên Đại Đức đã không hoàn tất khoá Cử nhân.
ẨN TU TRONG RỪNG VÀ HÀNH PHÁP
Trong những năm tiếp theo, Đại Đức Āciṇṇa vân du khắp nước Myanmar để tiếp tục nghiên tầm Giáo Pháp và thọ học Pháp bảo từ các bậc danh sư khác nhau.
Đại Đức Āciṇṇa đến Trung tâm thiền Mahāsi tại Yangon vào năm 1963 để cầu học phương pháp thực hành thiền với Ngài Mahāsi Sayadaw và Ngài U Paṇḍitābhivaṃsa trong suốt 55 ngày. Vốn có ba-la-mật trong Pháp hành, Đại Đức đã đắc được các tầng tuệ căn bản của thiền Tuệ được dạy ở đây chỉ trong vòng một tháng. Tuy nhiên, vì muốn biết rõ phương pháp thực hành một cách trọn vẹn, Đại Đức đã thực hành đến 55 ngày. Với kiến thức Pháp học và Pháp hành đã khá vững vàng, Đại Đức Āciṇṇa đi đến ngọn núi Mya-Tha-Peit ở gần núi Taung-Zun Kelāsa tại thị trấn Tha-Hton thuộc tiểu bang Mon để ẩn tu một mình và hành thiền tại đó.
Sau đó một thời gian, Đại Đức tiếp tục tìm học các phương pháp thực hành khác và đã đến nương tựa học với Ngài Than-Lyin Taw-Ya Sayadaw trong sáu tháng rưỡi, và vào năm 1965 với Ngài Shwe-Thein Taw-Ya Sayadaw tại thị trấn Kinnī trong ba tháng rưỡi.
Dù lúc bấy giờ Đại Đức Āciṇṇa tầm học và đã đạt được những chỉ dẫn từ các vị thiền sư tôn kính thời bấy giờ, nhưng do có thói quen so sánh Pháp học với Pháp hành, Đại Đức đã đối chiếu, khảo sát và không thỏa mãn với phương pháp thực hành đã được học trước đó nên lần này Đại Đức quyết định vào rừng ẩn tu. Và Đại Đức tiếp tục nghiên cứu, thực hành thiền dựa theo Kinh Điển Pāḷi và bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).
Trước đó từ lâu, Đại Đức Āciṇṇa có tâm nguyện rằng: “Sau khi thọ đại giới 10 năm, mình sẽ vào rừng ẩn tu”. Khi chương trình Cử nhân Phật học bị gián đoạn cũng là lúc Đại Đức gần được 10 hạ lạp. Bắt đầu từ năm 1964, vào mùa an cư mùa mưa (vassa) thứ 10, Đại Đức Āciṇṇa đã khởi phát tâm hành thiền mãnh liệt và bắt đầu thực hành “Hạnh đầu đà ngụ trong rừng” ở nhiều khu vực khác nhau phía Nam Myanmar trong hơn 16 năm tiếp theo.
Trong thời gian tu tập Pháp hành, Đại Đức Āciṇṇa di chuyển nhiều nơi để chọn trú xứ thích hợp. Đại Đức cư ngụ tại dãy núi gần núi Nemindara thuộc thị xã Tha-Hton trong một năm, tại trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon Cittasukha Taw-Ya thuộc thị xã Mu-Don trong ba năm, và tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya gần thôn A-Xin thuộc thị xã Ye trong 13 năm. Đại Đức vẫn duy trì vừa học Thánh Điển, vừa tu tập thiền Định, thiền Tuệ hết sức tinh chuyên và sống một đời sống vô cùng giản đơn. Suốt thời gian này, Đại Đức Āciṇṇa chỉ ở một mình, không cộng trú với các đồng môn khác, và hoàn toàn ngừng mọi mối quan hệ với gia đình và người thân.
Cũng trong thời gian này, vì ăn một ngày một bữa và ăn rất ít nên Đại Đức Āciṇṇa mắc phải bệnh loét dạ dày và bệnh sốt rét. Một lần, tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya, Đại Đức bị bệnh dạ dày hành hạ không đi khất thực được mà chỉ nằm nghỉ trong một cốc nhỏ và không cho các vị đồng phạm hạnh trong chùa biết, vì sợ ảnh hưởng đến việc hành thiền của họ. Khi các vị ấy biết Đại Đức bị bệnh và đến thăm, Đại Đức mới cho họ biết sự thật về bệnh trạng của mình. Vì bệnh dạ dày nên Đại Đức đã nhập viện tại Bệnh viện Mawlamyine để chữa trị qua một cuộc phẫu thuật. Đại Đức cũng đi Yangon để chữa trị với các bác sĩ chuyên khoa khác. Đối với bệnh tật, Ngài quán xét : “Phải chăng chúng là quả của nghiệp trong quá khứ?”; nghĩ vậy, Đại Đức chấp nhận sống với chúng và lạc quan trong trách phận của một tỳ-kheo đệ tử Phật đó là bổn phận học Pháp (Gantha-dhura) và bổn phận hành Pháp (Vipassanā-dhura), không một chút dễ duôi.
TRỞ THÀNH VIỆN CHỦ CỦA THIỀN LÂM PA-AUK

Thiền viện PA-AUK
               Trong những năm đó, Đại Đức Āciṇṇa tu tập các pháp hạnh đầu đà như hạnh mặc y được may từ giẻ rách bị vứt bỏ (paṃsukūla-cīvara), hạnh chỉ mặc tam y, hạnh sống dưới gốc cây v.v… sống đời sống sơn tăng giản dị và thoả thích trong thiền tập. Vốn quen biết với Ngài Viện chủ đời thứ hai của Trung tâm thiền Pa-Auk, Tôn Giả Aggapañña, tại Trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon suốt 3 năm, nên Đại Đức Āciṇṇa được Ngài Aggapañña biết đến và rất ngưỡng mộ khả năng của Đại Đức về cả Pháp học lẫn Pháp hành. Vào tháng 7 năm 1981, Tôn Giả Aggapañña lâm trọng bệnh và sắp xả bỏ báo thân nên thỉnh cầu Đại Đức Āciṇṇa tiếp tục thay Ngài điều hành Thiền viện. Thật lòng, Đại Đức Āciṇṇa không muốn nhận lời, vì sợ công việc của một viện chủ sẽ ảnh hưởng đến việc tu tập Pháp hành. Nhưng để Ngài Aggapañña được an lạc lúc lâm chung, Đại Đức đành phải nhận lời thỉnh cầu này.
Trở thành Viện Chủ đời thứ ba của Thiền viện Pa-Auk, Tôn Giả Āciṇṇa được biết với tôn hiệu là Ngài “Pa-Auk Tawya Sayadaw”. Khi đến Thiền lâm Pa-Auk, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw trình bày cho Ban Hộ Tự biết lý do Ngài nhận lãnh trọng trách điều hành trung tâm, và cũng cho họ biết rằng, Ngài chỉ cố gắng điều hành trong một thời gian ngắn mà thôi và Ban Hộ Tự có thể tìm một vị đại đức khác vừa ý để đảm trách công việc trong Thiền viện. Lại nữa, quen sống nơi núi rừng thanh vắng, nên Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw không ở trong Trung tâm thiền mà tự mình đi tìm một nơi khác thanh tịnh hơn. Cuối cùng, Ngài phát hiện một khu vườn xoài và sầu riêng ở giữa hai quả đồi cách trung tâm thiền khoảng một cây số rưỡi về hướng Đông. Thấy thích hợp, Ngài xin phép chủ vườn và nhờ người cất một cái cốc nhỏ bằng tre nứa ở đó. Ngoài thời gian đi khất thực và độ trai, Ngài chỉ ở trong cốc để tu tập.
Đối với Ban Hộ Tự, họ không muốn Tôn Giả Āciṇṇa phải đi nơi khác, vì Ngài là người được chọn bởi vị thầy thiền viện chủ đời thứ hai khả kính của họ. Vả lại, họ dần dần hiểu được tài đức và Giới – Định – Tuệ của Ngài, nên càng thêm kính trọng Ngài hơn. Kết quả là họ không đi tìm một người khác để kế nhiệm mà chỉ một lòng thỉnh cầu Tôn Giả Āciṇṇa thường trú tại trung tâm. Dù vẫn trông coi hoạt động của thiền viện, Pa-Auk Tawya Sayadaw vẫn dành nhiều thời gian độc cư, hành thiền trong cốc tre ở đỉnh đồi của khu rừng vốn bao phủ một vùng đồi hoang vắng chạy dọc chân rặng núi Taung Nyo. Khu vực đó, sau này, trở thành Thiền Viện Khu Thượng.
Kể từ khi Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw trở thành Viện Chủ, hệ thống thiền lâm Pa-Auk đã phát triển rất vững chắc và mạnh mẽ nhờ tu tập trên một đạo lộ nhất quán, dựa trên những chỉ dẫn rất chi tiết của Đức Phật Gotama trong Tam Tạng Thánh Điển Pāli và Bộ Chú Giải. Đạo lộ được tu tập dựa trên bộ ba gồm Giới (Sīla), phát triển Định (Samādhi), coi đây là nền tảng để thực hành thiền Minh Sát, giúp phát sinh Trí Tuệ (Paññā). Lộ trình này cũng được chia làm bảy giai đoạn thanh tịnh, cung cấp những chỉ dẫn tỉ mỉ để một hành giả, dưới sự hướng dẫn của một vị thầy thiện xảo, có thể thanh lọc thân (thân nghiệp), khẩu, ý, và cuối cùng là tận diệt các phiền não và chứng ngộ Niết-bàn ngay trong kiếp sống này.
ĐỨC HẠNH VÀ DANH TIẾNG VANG XA
Từ năm 1983, cả những hàng tăng sĩ lẫn cư sĩ đều tìm đến học thiền với Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw. Thiền sinh ngoại quốc bắt đầu đến thiền viện vào đầu những năm 1990. Khi danh tiếng của Ngài vang xa và thiền sinh đến ngày càng đông, Thiền Viện Khu Thượng dành cho nam giới dần được mở rộng từ một cái cốc đơn giản và một ít đệ tử thành hơn 360 cốc nằm trong rừng; một tòa thiền đường hai tầng và một thư viện (với văn phòng, phòng vi tính, và tăng xá ); một trạm xá; một sảnh đi bát khất thực; một nhà ăn có hai tầng lầu; và một sảnh tiếp khách và trú ngụ cho Ngài Sayadaw. Thiền Viện Khu Hạ dành cho nữ giới, cơ sở vật chất gồm hơn 180 cốc, một nhà bếp mới, một thiền đường ba tầng lầu, và một khu nhà tập thể năm tầng lầu.
Tính đến thời điểm tháng 5/2010, trong dịp khóa thiền tích cực 6 tháng do Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trì, có gần 2.000 vị tăng, tu nữ và thiền sinh cư sỹ cả người Myanmar và ngoại quốc tu tập tại Rừng Thiền Pa-Auk. Riêng thiền sinh người Việt Nam có gần 80 vị. Ngày thường, số thiền sinh Tăng, Ni, cư sĩ tại Pa Auk khoảng 1.000 người. Trong đó có khoảng 300 người nước ngoài đến từ 25 quốc gia khác nhau.
Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw nói lưu loát tiếng Anh và đã mở các khóa thiền quốc tế cũng như thuyết Pháp từ năm 1997 tại nhiều nước trên thế giới. Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ mà Ngài từng đến hoằng pháp gồm có Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức, Trung Quốc, Sri Lanka, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Indonesia. Vào tháng 12 năm 2006, Ngài đến Sri Lanka để tịnh tu một thời gian và tạm ngừng công việc giảng dạy cho đến năm 2007. Trong những năm gần đây, ngoài việc tích cực hoằng pháp lúc đủ duyên, Ngài còn dành thời gian ẩn tu tại dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) và Hoa Kỳ…
Năm 1997, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw đã xuất bản năm tập sách khổng lồ với tựa đề là “Đạo Lộ Đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā), giải thích chi tiết về lộ trình tu tập thiền Định, thiền Tuệ và được hỗ trợ bằng các trích dẫn phong phú từ Kinh Điển Pāḷi – hiện chỉ có ấn bản tiếng Myanmar và Sinhala (ngôn ngữ chính thức của Sri Lanka). Ngài cũng cho xuất bản một số tập sách khác bằng tiếng Miến, hiện đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng như Anh, Trung và Việt.
Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw năm nay đã 80 tuổi, sức khỏe không còn tốt như xưa nhưng Ngài vẫn làm việc không ngừng nghỉ để mang đến lợi ích cho hàng tứ chúng. Sau nhiều lần thỉnh mời Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw quang lâm, Việt Nam đã vô cùng vinh dự được Ngài nhận lời và trở thành điểm đến đầu tiên trong hành trình hoằng pháp châu Á năm 2014 của Ngài bao gồm Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Chương trình hoằng pháp của Ngài Đại Trưởng Lão và các thông tin khác về đạo lộ tu tập, về thiền viện Pa Auk có thể tham khảo thêm tại:http://www.paaukforestmonastery.org/index.htm
Những điều mà chúng ta biết về Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw thật ít ỏi so với những điều mà chúng ta chưa được biết về Ngài. Đức hạnh và trí tuệ của bậc thiền sư lỗi lạc đã vang danh khắp năm châu bốn biển thật không dễ gì thấu hiểu được, nhất là khi ngôn từ có vô vàn hạn chế. Nhóm soạn giả đã cố gắng tóm lược Tiểu sử Ngài Đại Trưởng Lão với ước mong có thể cung cấp vài nét chấm phá trong sự nghiệp vĩ đại của Ngài. Nhưng dù chỉ một phần nhỏ nhoi như vậy cũng làm cho chúng ta vô cùng kính trọng, vô cùng tôn kính cuộc đời và sự nghiệp của Pa-Auk Tawya Sayadaw bởi Ngài đã làm việc không ngừng nghỉ để đóng góp vào sự bảo tồn và duy trì Giáo Pháp của Đức Phật Gotama cũng như truyền cảm hứng tu tập Tam Vô Lậu Học: Giới – Định – Tuệ mạnh mẽ đến các hàng hậu học. Vào ngày 4/1/1999, với sự ghi nhận sự nghiệp của Ngài Đại Trưởng Lão Pa-Auk Tawya Sayadaw, Chính phủ Myanmar đã thành kính dâng lên Ngài tôn hiệu Aggamahākammaṭṭhānācariya (Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng), thật xứng đáng với những công hạnh của Ngài.
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGÀI PA-AUK TAWYA SAYADAW
Trong suốt sự nghiệp hướng dẫn thiền tập và hoằng pháp của mình, Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw có nhiều tác phẩm có giá trị và gây tiếng vang trên thế giới. Sau đây là những tác phẩm của Ngài đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và xuất bản:

– Vận Hành Của Nghiệp
– Biết và Thấy
– Đại Niệm Xứ Tường Giải
– Chánh Niệm Hơi thở và Thiền Tứ Đại
– Cỗ Xe Đại Giác
– Vượt Qua Chướng Ngại
– Dây Trói Buộc
– Con Đường Độc Nhất Để Chứng Ngộ Niết Bàn
Anumodāma! Sādhu, Sādhu, Lành thay!