Lễ rước xá lợi Phật mừng Phật Đản (TUGHPTVN)

LỄ RƯỚC XÁ LỢI PHẬT 
MỪNG PHẬT ĐẢN TẠI TRỤ SỞ TƯ GHPGVN

Nằm trong chương trình Đại lễ Phật đản PL.2561-DL.2017, Tối ngày 14/04/Đinh Dậu (10/5/2017) HĐTS GHPGVN, BTS GHPGVN Tp Hà Nội long trọng tổ chức nghi lễ cung rước xá lợi Phật cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc tại chùa Quán Sứ-trụ sở Trung ương GHPGVN.

Buổi lễ được cử hành với sự tham dự của HT.Thích Thanh Nhiễu – Phó chủ tịch TT HĐTS GHPGVN; HT.Thích Bảo Nghiêm – Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN – Trưởng Ban Hoằng pháp T.Ư- Trưởng BTS GHPGVN Tp Hà Nội; HT.Thích Thanh Nhã - Ủy viên TT HĐTS GHPGVN – Trưởng Ban nghi lễ T.Ư cùng đông đảo chư tôn đức Tăng Ni HĐTS GHPGVN, BTS GHPGVN Tp Hà Nội và  hàng nghìn tín đồ Phật tử, người dân, sinh viên tình nguyện đã thành kính, hoan hỉ tham gia sự kiện này. Đoàn rước đi qua nhiều tuyến phố lớn như Quán Sứ, Lý Thường Kiệt, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo sau đó quay về Quán Sứ.

Đoàn rước với sự tham dự của 600 thanh niên phật tử CLB Quán Sứ, CLB Phật tử Môi trường xanh ,CLB Phật tử sinh viên , CLB Phât tử Linh An …. bao gồm Trống sấm, rồng lân sư tử, 81 lẵng hoa, 81 ngọn đuốc, 49 lọng vàng, 7 bông sen to hàng trăm lá cờ Tổ quốc và Phật giáo.

Từ ngôi chính điện chùa Quán Sứ, chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo GHPGVN cùng đoàn rước đã từ từ đi qua các con phố trung tâm của Thành phố đã thu hút sự chú ý của đông đảo người dân. Hàng trăm tăng ni, phật tử  tụng kinh, chắp tay thành kính chiêm bái cung đón xá lợi Phật với tấm lòng thành kính và niềm vui đại hoan hỉ nhân mùa Phật đản.

Lễ rước xá lợi Phật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với phật tử, bởi trong Tam bảo, xá lợi Đức Phật (hay hình, tượng) là Phật bảo, kinh là Pháp bảo và nhà sư là Tăng bảo. Đó là ba ngôi báu - đối tượng quy kính của người theo đạo Phật.

Chùm ảnh tại lễ rước Phật
















 













 















 
Cũng nhân dịp này toàn thể chư tôn đức cùng quý Tăng Ni Phật tử được thưởng thức chương trình văn nghệ kính mừng Phật đản do Ban Hướng dẫn Phật tử T.Ư cùng toàn thể các thành viên trong CLB TTN Phật tử Quán Sứ, CLB Phật tử Linh An trong không khí hân hoan đón mừng Phật đản sinh PL.2561-DL.2017















Theo PGNĐ

Ý nghĩa 7 bước chân của Đức Phật Thích Ca

Ý nghĩa 7 bước chân của Đức Phật Thích Ca
Cứ mỗi độ xuân sang đến ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, những hàng đệ tử của đức Phật trên toàn thế giới lại hân hoan đón mừng ngày đản sinh của Ðấng giác ngộ. Sự ra đời của đức Phật đã mở ra cho nhân loại một lối thoát khỏi sinh tử khổ đau, mà kiếp nhân sinh phải cưu mang trong nhiều kiếp luân hồi.

Từ bước khởi thủy tìm thầy học đạo cho đến lúc phát kiến tự tâm, ngài đã trải qua bao gian lao khó nhọc, lắm lúc tưởng chừng như bỏ cuộc giữa đường thiên lý mịt mờ. Cuối cùng quả vị giác ngộ, giải thoát cũng đến với đấng Thế Tôn, người mà chư thiên và loài người đang quay về và nương tựa.


Hôm nay một lần nữa mùa sen nở rộ, Phật đản lại về. Chúng ta cùng nhau đốt nén hương lòng chấp tay thành kính, ôn lại tiến trình đản sinh của đức Phật. Nguyện noi theo bước đường tu tập của ngài, cho dù gặp bao chông gai bảo táp đến đâu, cũng không thối chí nản lòng mà bỏ cuộc.



Sự Ðản sinh của đức Phật ngang qua bảy bước mà Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, kinh Ưu Bà Di Tịnh Hạnh Diệu Pháp môn phẩm Thụy Ứng ghi lại như sau: Sau khi thọ thai Ðấng Thánh lớn, gần ngày mãn nguyệt khai hoa, Hoàng hậu Ma Gia trở về quê mẹ. Trên đường về quê cũ, Hoàng hậu nghỉ chân dưới một vườn hoa Lâm Tỳ Ni xinh đẹp.



Hoàng hậu khoan thai dạo bước quanh vườn, hít thở không khí trong lành của gió xuân mát dịu, lắng nghe từng đàn chim chuốt giọng trên cành, ngắm nhìn từng đóa hoa đua sắc khoe màu trong nắng sớm, rồi nhẹ tay vin hái cành hoa Vô Ưu thì liền Ðản sinh Ðấng Thánh lớn. Sự Ðản sinh ấy được đánh dấu qua tiến trình giải thoát giác ngộ, biểu trưng qua bảy bước nở hoa sen, mà nhân loại hôm nay đang ngưỡng vọng và noi theo Ngài.



1. Bước thứ nhất đức Phật nhìn về Phương Ðông và bảo rằng: “Phương Ðông ấy chính là ngọn đuốc soi đường tối thượng cho chúng sinh trong mọi lãnh vực” (Thị Ðông phương vị chúng sinh vi đạo thủ cố). Ðức Phật lấy phương mặt trời mọc để chỉ cho sự phát huy trí tuệ.


Thật vậy, từ phàm phu đến quả vị Thánh hiền, không một ai mà không cần đến ánh sáng của trí tuệ. Trí tuệ là ngọn đuốc soi đường đi đến chân - thiện - mỹ; mà “Văn hóa là chìa khóa mở đầu”. Từ trường đời đến trường đạo đều lấy sự giáo dục làm đầu. Bởi “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu thì chỉ là thư viện chứa sách”.



Bước đầu học Phật, hành giả phải hình thành cho mình tri thức Phật học ngang qua kinh - luật - luận mà đức Phật và chư Tổ để lại. Rồi trên cơ sở lý trí và thực nghiệm, để hình thành cho mình một phàm tuệ để chuyển hóa thân tâm và ngoại tại, rồi mới thú hướng thánh tuệ bằng thiền định, nhằm vượt thoát dòng sinh tử khổ đau.



Từ tri thức, hành giả hướng đến trí để làm cho tri hành hợp nhất, hình thành thiện nghiệp theo luật nhân quả tương ứng, nhằm chuyển hóa thân tâm và ngoại tại, từ xấu sang tốt, từ dữ sang hiền, từ khổ đau sang an vui hạnh phúc. Vì vậy cho nên, đức Thế Tôn chuyển sang bước thứ hai.



2. Bước thứ hai đức Phật nhìn về phương Nam và bảo rằng: “Phương Nam ấy chính là ruộng phước an lành cho chúng sinh gieo gặt” (Thị Nam phương vị chúng sinh lương phước điền cố). Ðức Phật lấy phương Nam để chỉ cho chúng sinh nhờ phát huy trí tuệ, biết quán chiếu vào sâu trong lòng thực tại nên biết quy hướng về những nghiệp nhân tốt lành.


Khi đã hình thành cho mình tri thức Phật học, hành giả đem ra quán chiếu, hành trì để chuyển hóa nội tại và ngoại tại, làm cho thế giới cộng thông, nhằm đem đến sự bình ổn, tươi mát và an lạc cho cuộc sống tương duyên, hạnh phúc cho loài người và chan rải cho cả vạn loại hữu tình. Thấy rõ luật nhân quả tương ứng trong cuộc sống trùng duyên, nên không phó thác đời mình cho một đấng siêu nhiên phi thực nào, không đổ lỗi cho một ai, cũng không quay lưng sấp mặt hay chạy trốn thực tại.



Đức Phật dạy: “Đạp mây uống nước cam lộ cũng tại các ngươi; mà đào sâu hố thẳm địa ngục cũng chính tại các ngươi chứ không do ai khác”. Một biệt nghiệp tương tác vào cộng nghiệp; và những cộng nghiệp cũng chi phối đến từng cá nhân. Thấy rõ thế giới đảo điên là do lòng người điên đảo, để rồi cùng nhau tạo ra bao nhiêu nổi thống khổ cho thế gian này.



Một cá nhân tạo ra nghiệp nhân xấu ác thì sẽ cộng hưởng vào cuộc sống của cộng đồng; và những cộng đồng tạo ra nghiệp nhân xấu ác cũng ảnh hưởng đến cho từng cá nhân. Phải thấy rõ vạn pháp trùng duyên sinh, nên một là tất cả và tất cả bao hàm một, mà không ỷ lại hay phó thác cho một ai. Trong cuộc sống nhân sinh có rất nhiều nổi khổ, nhưng không ngoài hai nổi khổ của thân và tâm. 



Những thứ làm cho thân khổ phần lớn đều thuộc về yếu tố vật lý; như không ý thức được những sự tác hại của ma túy, của thuốc lá, của rượu và những thực phẩm có pha chế hóa chất, thuốc trừ sâu, những thứ làm ô nhiễm môi trường, nên làm cho thân thể bị tác hại sinh ra bệnh tật khổ đau. Những thứ làm cho tâm khổ phần lớn đều thuộc về yếu tố tâm lý không lành mạnh; như tham giận, ganh tỵ, nhỏ mọn, mỉa mai, châm thọc, ích kỷ, keo kiết, độc ác, cống cao ngã mạn, thích đấu tranh, thích hơn thua thắng bại, ngộ nhận và mê lầm.


ó những nổi thống khổ thuộc yếu tố chủ quan như đã phân tích ở trên; nhưng cũng có những nổi thống khổ do yếu tố khách quan đưa lại như thiên tai, chiến tranh do cộng nghiệp xấu ác của quá khứ nhiều đời tạo nên “Y báo và chánh báo tương ứng”. Mỗi khi phát huy được tuệ quán, thấu rõ nguyên nhân và hệ quả của mọi nổi thống khổ ấy; chúng ta mới tìm cách chuyển hóa và giải trừ. Vì vậy cho nên, hướng đến nghiệp lành chính là tạo ruộng phước an lành cho cuộc sống thực hữu của nhân sinh. Ðức Phật dạy:



Ðem thù đến trả thù

Mình, người đều đau khổ

Từ bi thắng hận thù

An lạc tận nghìn thu.



Lời dạy ấy vẫn còn là khuôn vàng thước ngọc để cứu nguy sự diệt vong của nhân loại cho hôm nay và cả mai sau. Chúng ta không tìm đâu ra những trận Thánh chiến bằng cách giết hại đồng loại mang khác nhãn hiệu với mình ở trong những lời dạy của đức Phật. Giải trừ nghiệp nhân xấu ác, thực hành nghiệp lành là bước đầu học Phật, hay hướng đến phương nam vậy.



3. Bước thứ ba đức Phật nhìn về phương Tây và bảo rằng: “Phương Tây ấy chỉ cho chúng sanh cách hóa giải động cơ sinh tử, chấm dứt sanh thân cuối cùng” (Thị Tây phương vị chúng sanh dĩ tối hậu thân cố). Phương Tây là phương mặt trời lặn, để chỉ cho sự an nghỉ tuyệt đối của tâm thức.


Dòng tâm thức (Samsàra) đã đưa đẩy chúng sinh trong sáu nẻo luân chuyển từ vô lượng kiếp đến nay. Ðức Phật đã thấy rõ nguyên nhân của dòng sinh tử là do động lực của Vô minh. Từ vô minh mà phát sinh Hành, từ Hành phát sinh Thức, từ Thức phát sinh Danh Sắc, từ Danh Sắc phát sinh Sáu nhập, từ Sáu nhập phát sinh Xúc, từ Xúc phát sinh Thọ, từ Thọ phát sinh Ái, từ Ái phát sinh Chấp thủ, từ Chấp thủ phát sinh Hữu, từ Hữu phát sinh Sanh, từ Sanh phát sinh Già bệnh chết.



Giải trừ vọng thức, hoặc chặc đứt nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nên sinh tử cũng chấm dứt. Ðến đây đức Phật xác quyết: “Sinh đã tận, lậu đã tận, gánh nặng đã để xuống, những việc nên làm đã làm; từ nay không còn trở lại sinh tử nữa”; hay đây chính là sanh thân cuối cùng vậy. Đến đây, phần tự giác ngộ đã hoàn thành, đức Phật bắt đầu dấn thân đi vào cuộc đời để cứu độ chúng sinh.



4. Bước thứ tư đức Phật nhìn về phương Bắc và bảo rằng: “Phương Bắc ấy chỉ cho chúng sinh là ta đã được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác” (Thị Bắc phương vị chúng sanh ngã đắc A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề). Chúng sinh đang quằn quại trong đêm dài tăm tối lạnh lùng (phương Bắc) với bao sầu bi khổ ưu não.


Bóng vô minh tưởng chừng như mãi đè nặng lên tâm hồn nhân thế. Dòng tâm sinh diệt như con tạo tưởng chừng cứ mãi đong đưa. Bóng thời gian phủ mờ nhân ảnh, như đẩy xô về bất định trong kiếp luân chuyển trùng trùng. Nhưng không, Ðấng Giác ngộ đã xuất hiện giữa thế gian, để làm ngọn đuốt soi đường đến giải thoát giác ngộ.



Ðến đây, đức Thế Tôn bắt đầu chuyển bánh xe pháp. Ngài tiếp cận với cuộc thế đầy huyễn mộng mà lắm khổ đau. Đức Phật như vị lương y biết bệnh và cho thuốc, nên ai bị bệnh nặng thì được Ngài cứu trước. Vì vậy cho nên, Ngài chuyển qua bước thứ năm, tức tiếp cận với cuộc đời để tùy duyên mà hóa độ.



5. Bước thứ năm đức Phật nhìn xuống phương dưới và bảo rằng: “Phương dưới ấy ta sẽ chỉ cho chúng sinh chinh phục ma lực (của tham ái, si mê, và  sân hận)  để vượt thoát mọi khổ đau” (Thị Hạ phương vị chúng sanh dị dục hàng ma cố). Vì lòng thương tưởng đến chúng sinh đang quằn quại trong biển đời đầy đau khổ bởi bóng tối vô minh, nên đức Phật bắt đầu chuyển bánh xe pháp.


Từ thành thị đến nông thôn, từ rừng già hoang vu cho đến phố phường tấp nập, từ giai cấp thượng lưu cho đến người bần cùng nghèo khó; đức Phật tùy bệnh nặng nhẹ mà cứu nguy và cho thuốc. Phương dưới ấy là chỉ cho cảnh khổ đau của Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh. Sở dĩ chúng sinh rơi vào trong ba đường xấu ác ấy là do nghiệp nhân xấu ác của ý, miệng và thân, và bởi  sự thúc đẩy của tham, sân, si.



Thật vậy, vì do lòng tham vượt quá tầm tay nên người ta mới xâm phạm đến tiền tài, danh vọng, địa vị và lẻ sống còn của kẻ khác. Biết bao cuộc chiến tranh từ xa xưa cho đến ngày nay, đâu không do lòng tham ấy? Cũng vì lòng tham không đáy mà con người mệnh danh nầy nọ kia để gây chiến tranh, làm khổ đau cho nhau tưởng chừng không có ngày kết thúc. Muốn vượt thoát ba đường xấu ác, thì phải đưa tâm thức hướng thượng, nên đức Phật tiếp tục chỉ cho chúng sinh phương trên.



6.Bước thứ sáu đức Phật chỉ lên phương trên và bảo rằng: “Phương trên ấy là chỉ cho chúng sinh sống đúng năm nhân cách và mười điều thiện” (Thị Thượng phương vị chúng sinh quy y thiên nhân cố). Chúng sinh muốn vượt thoát ba đường dữ là Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh thì phải trở lại sống đúng năm nhân cách (5 giới) và mười điều thiện.


Thật vậy, năm nhân cách là nền tảng cho một cuộc sống có hạnh phúc, có chí hướng vị tha, có năng lực bảo vệ giống nòi, bảo vệ thân sống, nguồn sống, và cả lẽ sống của nhân loại. Ðây chính là thước đo đạo đức của một con người có đủ lý trí và tình thương trên thế gian này.



1-Trước hết phải ý thức rằng: Thân mạng là quý nhất, nên phải tôn trọng mạng sống của mình và của người. Không tự hủy hoại nó bằng những độc tố, những nguồn thực phẩm có hóa chất và những sản phẩm tinh thần không lành mạnh như phim ảnh, sách báo có nội dung bạo động, hận thù v.v…Không giết hại mạng sống của nhau.



Không gây chiến tranh cũng không tán thành mọi cuộc chiến tranh phi nghĩa. Phải lấy lý trí dể hóa giải khổ đau, lấy từ tâm để yêu thương tất cả. Con người không phải là đối tượng đáng ghét, mà cái đáng ghét chính là chất liệu ngu si (vô minh) do không nhận ra lẽ sống trong mỗi tâm hồn. Giải trừ vô minh bằng cách sống đúng với năm nhân tính là bước đầu làm một con người lương thiện vậy.



2-Có thân sống nên phải có nguồn sống để nuôi thân. Vì vậy cho nên phải biết tạo ra nguồn sống bằng bàn tay, khối óc và con tim của mình. Phải ý thức bảo vệ nguồn sống của mình và nguồn sống của người, nên không manh tâm cướp đoạt nguồn sống của nhau dưới mọi hình thức. Nguồn sống được tạo ra bởi sự soi sáng của trí tuệ và sự hướng dẫn của tình thương, nên không đánh mất nhân cách và không tạo ra khổ đau.



3-Sự mưu cầu hạnh phúc lứa đôi là điều mà những người sắp trưởng thành trong thế gian đều mong ước. Nhưng, hạnh phúc ấy không từ một Ðấng nào ban cho, mà do chính mình tạo ra bằng lý trí và tình thương. Nhờ vào trí tuệ, nên chúng ta biết gạn đục khơi trong trong mỗi hành vi của sự sống. Luôn trang điểm cho đời bằng những đóa hoa tươi thắm, và sưởi ấm tình đời bằng lòng thương yêu chân thật.



Ý thức rằng, đem đến sự an vui hạnh phúc cho người cũng chính là xây dựng sự an vui và hạnh phúc cho chính mình. Thấu rõ lý tính ở trong nhau và đi vào nhau (tương tức), nên không tự làm khổ mình, người. Thực hiện một cuộc sống hạnh phúc chung cùng là biết mở ra tuệ giác hiện pháp lạc trú cho mình và người vậy.



4- Và cũng chính nhờ vào tuệ giác an lạc, nên biết sử dụng ái ngữ trong mọi truyền thông của sự sống. Biết dùng lời nói nhẹ nhàng, êm ái, thân thương, đoàn kết và xây dựng. Không dùng những lời nói nặng nề, cộc cằn, thô lỗ, tục tỉu, mĩa mai, châm thọc, cống cao, ngã mạn, gây chia rẽ, hận thù. Tránh không nói lời sai sự thật, trừ lúc vị tha. Không đi chuyền nói lỗi người, cũng không phê phán những gì mình không biết.



Ý thức  rằng, ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, nên nguyện dùng lời hay ý đẹp để đi vào cuộc sống, nhằm đem đến cho nhau những truyền thông lành mạnh, tạo nên thế giới cộng thông trong niềm tin yêu và hòa kính. Không xem nghe những sách vở, phim ảnh và báo đài có nội dung không lành mạnh.



5- Ý thức rằng, trí tuệ là ngọn đuốc soi đường đến chân thiện mỹ, nên nguyện luôn luôn gìn giữ sự định tĩnh và trong sáng của tâm hồn. Bởi tâm hồn có trong sáng mới giúp chúng ta thấu rõ mọi hành vi thiện ác, tốt xấu nhằm chuyển hóa thân tâm và ngoại tại. Vì vậy cho nên, phát huy trí tuệ và bảo vệ tình thương chính là giềng mối của nền đạo đức nhân bản. Ý thức như vậy, nên không sa vào rượu chè, cờ bạc, xì ke ma túy và những thú vui trụy lạc, đam mê mất lý trí.



Ðó chính là sự trở về sống đúng năm nhân cách căn bản, để làm một con người sống có đạo đức trên cuộc đời. Ngoài ra, đức Phật còn khuyên mọi người thực hành mười điều thiện để có được đạo đức của một vị trời.



Thân có ba là: không giết hại, không trộm cắp, và không tà dâm. Miệng có bốn là: không nói dối (vọng ngôn), không nói hai chiều (lưỡng thiệt), không nói lời cộc cằn thô lỗ (ác khẩu), không nói lời vô ích (ỷ ngữ). Ý có ba là: tham lam, sân giận, si mê tà kiến. Thực hành mười thiện thì được một cuộc sống an vui của vị trời. Ngược lại, làm mười điều ác thì bị rơi xuống ba đường dữ là Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh. Vì vậy cho nên, phương trên ấy chính là phương của trời người.



7.Và cuối cùng là bước thứ bảy: Đức Phật một tay chỉ lên, một tay chỉ xuống và bảo rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Vô lượng sinh tử, ư kim hỷ tận”: Từ các cõi trời cho đến địa ngục (chúng sinh luôn trôi lăn trong ba cõi sáu đường) đều do vọng tâm ngã chấp chi phối; vì vậy cho nên đã trôi dài trong vô lượng kiếp sinh tử, và đến kiếp này là sinh thân cuối cùng của ta vậy. 


Thật vậy, cái tình thức của chúng sinh hữu tình nó đeo đẳng tâm hồn trong vô lượng kiếp đến nay, thật khó mà bỏ xuống. Khi thì làm người, khi thì sinh ở loài trời, khi thì lộn nhào xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh .v.v… Dòng tâm thức có từ vô thủy, chi phối chúng sinh hữu tình bởi dòng samsàra lên xuống theo nghiệp cảm duyên khởi trùng trùng. Đến đây Ngài đã thấy rõ chủ nhân của sự dựng xây ngôi nhà sinh tử chính là tình thức (duy ngã độc tôn), nên tìm cách để thoát ra, hay xóa sạch mọi động cơ của chấp ngã và chấp pháp.



Vì vậy cho nên, mọi ý hướng đi tìm chân lý bởi thứ tình thức mang tính chủ quan của từng bộ óc (pháp môn), nó chỉ tạo nên những uy lực đè nặng tâm hồn và phân hóa thực tại mà thôi. Nếu quán sát tâm theo khuôn mẫu của ký ức đã chết cứng tự bao giờ, thì vô tình ta đã quay lưng sấp mặt bỏ qua thực tại với những uyên nguyên của nó. Chân tướng của vạn hữu là bản thể sống động bao hàm, và luôn vận hành một cách lung linh mầu nhiệm.



Vì vậy cho nên, dùng mọi cách để theo dõi tâm, nhận dạng tâm, hướng dẫn tâm, điều phục tâm chỉ là cách chế ngự ý, hoặc an lập ý của hàng Nhị thừa bởi người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt. Trong khi người kiểm duyệt (năng quán) và kẻ bị kiểm duyệt (sở quán) cũng chỉ là tâm.



Ðức Phật đã thấu rõ là: “Tâm không thể nắm bắt từ bên trong, từ bên ngoài hay ở giữa. Tâm vô hướng, vô niệm, không có chỗ sở y, không nơi chốn quy túc. Các đức Như Lai không thấy tâm trong quá khứ, trong hiện tại, hay ở vị lai”. (kinh Phật). Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao mà quán niệm được? Nếu có quán niệm thì chẳng qua là sự quán niệm về những vọng tưởng giả lập của tâm thức mà thôi. “Một lưỡi gươm không thể tự cắt nó, một ngón tay không thể tự sờ mó nó, tâm không thể tự quán tâm”. Những pháp môn được dựng lập bởi tình thức (duy ngã độc tôn) chỉ tạo thêm vòng lẫn quẫn bởi chính công họa sư tâm ý, và vẫn bị giam hãm trong cái rọ tư tưởng ngàn đời; chẳng khác nào kiến bò quanh miệng chén, mãi tìm lối nhưng không thể thoát ra.



Ðức Phật dạy: “Thấy biết mà lập biết là gốc của vô minh, thấy biết mà không lập biết chính là Niết bàn”. Liễu ngộ chân lý không hạn cuộc bởi dòng thức chủ quan, nên không cần tích tập kiến thức cũng không cần vay thêm kiến thức của ai khác. Cái thấy biết chân thật nó siêu vượt khỏi tầm đối đãi của Nhị nguyên, nên ta chỉ cần rỗng rang mọi sự thì tâm được giải phóng, thông lưu và vô nhiểm.



Ðến đây đức Phật xác quyết: “Sinh đã tận, lậu đã tận, gánh nặng đã để xuống, những việc nên làm đã làm, từ nay không còn trở lại sinh tử nữa”. Công hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh đã viên mãn, một vị Phật ra đời giữa thế gian. Một tiến trình từ phàm phu đến quả vị Phật phải trải qua bảy bước, mà chư Phật quá khứ, đức Phật Thích Ca trong hiện tại đã thành, và những vị Phật tương lai sẽ thành.



Hôm nay, kỷ niệm ngày đản sinh của đức Thế Tôn; với bao nghi lễ tôn kính của những đệ tử của đức Phật trên khắp thế giới. Nhưng những tưởng niệm ấy không chỉ giới hạn trong không gian và thời gian, mà là ghi nhớ về một đại sự nhân duyên hy hữu luôn luôn tỏa sáng, hướng dẫn cho sự phát triển tâm linh, làm tăng trưởng quyết tâm tu tập, thực hành theo giáo pháp của Ngài. chúng ta cùng nhau ôn lại tiến trình tu học mà đức Phật đã thành tựu. Nguyện lấy đó làm tư lương cho bước đường tu học của mình, cho dù gặp bao chông gai bảo táp đến đâu cũng không thối chí nản lòng mà bỏ cuộc.



Nam mô đức bổn sư Phật Thích Ca Mâu Ni, tác đại chứng minh.

Nguồn: Vườn hoa phat giáo

NAM ĐỊNH TỔ CHỨC PHẬT ĐẢN TẠI TRÚC LÂM THIÊN TRƯỜNG

NAM ĐỊNH TỔ CHỨC PHẬT ĐẢN TẠI TRÚC LÂM THIÊN TRƯỜNG


Sáng nay, 05.05 (10.04.Đinh Dậu), tại Trúc Lâm Thiên Trường-Trung tâm Phật giáo tỉnh Nam Định, BTS GHPGVN tỉnh đã trang nghiêm tổ chức Đại lễ Phật đản PL.2561 - DL.2017. 





Quang lâm chứng minh, tham dự buổi lễ có HT.Thích Minh Tâm-TV HĐCM TW GHPGVN; HT. Thích Thanh Lương, HT. Thích Thanh Nghị - Chứng minh BTS; TT. Thích Quảng Hà - PCT HĐTS GHPGVN, Phó ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh; TT. Thích Tâm Thiệu, TT. Thích Tâm Vượng, Ni sư Thích Đàm Hiền, đồng Phó BTS GHPGVN tỉnh, cùng chư tôn đức giáo phẩm trong BTS GHPGVN tỉnh, BTS GHPGVN thành phố và các huyện cùng đông đảo Tăng Ni, Phật tử vềtham dự.

Về phía chính quyền có sự tham dự của ông Nguyễn Viết Hưng - PCT TT HĐND tỉnh; bà Nguyễn Thị Hà - Chủ tịch HLHPN tỉnh; ông Đặng Phúc Giao - PCT UBMTTQVN tỉnh; ông Nguyễn Danh Cường - Phó giám đốc kiêm Trưởng ban Tôn giáo Sở Nội vụ cùng đại diện các sở, ban, ngành trong tỉnh.

TT. Thích Quảng Hà tuyên đọc Thông điệp Phật đản

Sau nghi thức niệm Phật cầu gia bị, chào quốc kỳ và đạo kỳ. TT.Thích Quảng Hà đã thay mặt cho chư tôn đức tham dự tuyên đọc Thông điệp Phật đản của Đức Pháp chủ GHPGVN gửi đến Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước: “Mùa Phật đản Vesak thiêng liêng PL.2561 – DL.2017 trở về rộn ràng trong không khí Tăng Ni và Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đoàn kết, tập trung trí tuệ cùng nhau tổ chức thành công Đại hội đại biểu Phật giáo các tỉnh, thành phố, tiến tới Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VIII (2017 – 2022). Sự phát triển ổn định, bền vững của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở tất cả các cấp là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp hoằng dương Chính pháp, gìn giữ và phát huy sự trong sáng, truyền thống hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam.” 






















TT. Thích Tâm Vượng tuyên đọc Diễn văn Phật đản

Tiếp theo, TT.Thích Tâm Vượng tuyên đọc diễn văn khai mạc Đại lễ Phật đản của Hòa thượng Chủ tịch HĐTS GHPGVN, trong đó nhấn mạnh: “Từ kỷ nguyên bình minh của nhân loại, Đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni đã khai sáng Đạo Phật và cống hiến cho nhân loại một tôn giáo, một nền triết học và một con đường sống. Phật giáo là tôn giáo của trí tuệ, tình thương yêu chúng sinh, đem lại hòa bình khắp muôn nơi. Đạo Phật là tôn giáo đạo đức sống động suốt hơn 26 thế kỷ qua và hơn bao giờ hết ngày nay vẫn đang là định hướng sống cho hàng triệu triệu người trên khắp hành tinh. Đạo Phật là triết học biện chứng pháp đưa con người đến một đời sống nhân bản hướng thượng. Đó là con đường sống hài hòa giữa thân và tâm, an lạc, hạnh phúc qua thực hành Giới - Định - Tuệ theo con đường Trung đạo.”

Thay mặt lãnh đạo chính quyền, ông Nguyễn Viết Hưng - PCT TT HĐND tỉnh đã có phát biểu chúc mừng tới toàn thể chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử trong toàn tỉnh có một mùa Phật đản với nhiều niềm vui. Qua đây ông cũng ghi nhận những đóng góp của Phật giáo trong thời gian qua, luôn luôn tích cực tham gia các công tác Phật sự cũng như thế sự và thực hiện tốt các chính sách pháp luật với châm tốt đạo, đẹp đời.











































Không khí trang nghiêm của buổi lễ toàn thể hội chúng cùng hướng về tôn tượng đức Phật sơ sinh làm lễ dâng hương và cử hành nghi thức tắm Phật.
Theo PGNĐ

Ý nghĩa của nghi thức tắm Phật

Ý nghĩa của nghi thức tắm Phật

Mỗi năm đến mùa Phật đản, các chùa đều làm lễ tắm Phật và đọc bài kệ, bài chú tắm Phật. Nếu tin rằng bài chú tắm Phật có tính cách linh thiêng thì cũng được, nhưng theo tôi, hiểu được ý nghĩa và có độ cảm sâu sắc về bài kệ, sẽ gặt hái được nhiều lợi ích hơn trên bước đường tu.



Thật vậy, hiểu được trí tuệ và đức hạnh của Phật thì giữa chúng ta và Ngài có sự gắn bó thân thương, gần gũi hơn; từ đó thế giới Ta-bà mà chúng ta đang ở và thế giới Phật cũng trở nên gần nhau, không còn bị ngăn cách xa xôi.

Và lần lần chúng ta sẽ hiểu được việc làm siêu việt của Phật, hiểu được thế giới Phật, để thâm nhập được thế giới Phật thì sẽ làm được những việc ngoài sức nghĩ tưởng của con người. Các Hòa thượng lớn đều đạt được thành quả như vậy, mặc dù các ngài sống giản dị, nhưng việc làm nào của các ngài cũng thành tựu tốt đẹp mà người thường không làm được; đó mới thật là Phật sự.

Vì vậy, thâm nhập Phật huệ là thấy Phật tu hành, phát tâm Bồ-đề và thành Phật. Chúng ta suy nghĩ và làm theo Phật, nên ở ngoài tham vọng tính toán; nhờ vậy, Phật mới bổ xứ cho ta làm và Ngài bảo Hộ pháp Long thiên trợ lực cho ta, dẫn đến kết quả vượt ngoài khả năng của ta.

Một vị Tổ sư có độ cảm sâu sắc về sự thọ mạng bất tử của Phật, đã sáng tác bài kệ tắm Phật, nhưng ngài ẩn danh. Đó là bài thơ Đường có ba đoạn, mỗi đoạn có bốn câu. Bài thơ này bằng chữ Hán, nên Phật tử đọc mà ít người hiểu được. Tôi dịch bài này ra tiếng Việt như sau, để mọi người hiểu được tôn ý của Đức Như Lai, theo đó tu hành mới đạt được kết quả không thể nghĩ bàn.

Con nay tắm gội Đức Như Lai
Trí tuệ quang minh tọa bảo đài
Ngũ trược chúng sanh đều rửa sạch
Không còn sanh tử ở trần ai.
Phật cũng không sanh Ca Tỳ La
Cũng không nhập diệt Câu Thi Na
Không sanh không diệt là chơn Phật
Xứng danh giáo chủ cõi Ta-bà.
Hôm nay mùng tám tháng Vê-Sa           
Xuất hiện trên đời Sĩ Đạt Ta
Chín rồng phun nước từ Thiên ngoại
Bảy bước chân đi bảy đóa hoa.


HT.Thích Trí Quảng thực hiện nghi thức tắm Phật tại Việt Nam Quốc Tự
ÁN MÂU NI MÂU NI TAM MÂU NI TÁT PHẠ HẠ

“Con nay tắm gội Đức Như Lai”.

Chúng ta lấy nước nào tắm Như Lai. Một số người cho rằng không được dùng nước giếng để tắm Phật, phải lấy nước tinh khiết, vì thế chỉ có nước mưa từ trên trời rơi xuống mới tinh khiết.

Theo các vị Tổ dạy, nước tắm Phật phải lấy từ tánh thiên chơn, hay từ vô thức, vô tâm của chúng ta, nghĩa là cùng tột của sự giải thoát. Vì từ tánh thiên chơn mới sanh ra được nước Bát công đức. Nước Bát công đức có một công năng kỳ diệu là có thể tẩy sạch được thân nghiệp chướng ô uế, rửa sạch tâm phiền não trần lao của chúng ta.

Để tắm Phật, chúng ta mượn nước trong sạch, nhưng muốn linh nghiệm phải kết hợp được lòng thành, tánh thiên chơn của chúng ta. Nếu không có lòng thành, không phát xuất từ tánh thiên chơn, thì không hiệu nghiệm. Công đức thủy này do chúng ta tu hành đúng Chánh pháp mà có.

Vì thế, phải mượn nước sạch cộng với tâm trong sạch và công đức của chúng ta. Kết hợp ba yếu tố này lại mới thành pháp. Chính vì lý do không đơn giản ấy, nên hình thức tắm Phật giống nhau, nhưng có nơi đạt được sự linh nghiệm, có nơi không.

Thực tế chúng ta tham dự lễ tắm Phật, có cảm nhận rằng người chủ lễ trang nghiêm được tâm thanh tịnh, trong sáng, đức hạnh vẹn toàn, nên đã biến nước mưa thành nước Bát công đức. Nước công đức này rải trúng ai thì người đó được tâm mát mẻ. Nói cách khác, nhận thấy đức hạnh của chủ lễ, chúng ta sanh tâm kính trọng, an vui, giải thoát.

Có thể nói trên bước đường tu, chúng ta thường mượn cảnh để biểu thị tâm, vì tâm không có cảnh trở thành vô nghĩa, mà cảnh không chuyên chở được tâm thì cũng không có giá trị gì.

Hiểu rõ như vậy, khi làm lễ tắm Phật, chúng ta chuẩn bị tư thế đạt đến tánh thiên chơn, với tất cả lòng thành, với tất cả niềm tin, mới có kết quả tốt. Cùng cầu nguyện, mà người có kết quả tốt, người không được gì và cùng tổ chức đạo tràng giống nhau, nhưng có đạo tràng thanh tịnh, đạo tràng không thanh tịnh là như vậy.

Tâm thành cùng với niềm tin của chúng ta hòa quyện với đức hạnh của vị chủ trì lễ, tất cả dồn lực vào nước tắm tượng Phật, biến tượng trở thành linh thiêng.

Tượng vật chất không linh, nhưng kết hợp được niềm tin và lòng thành của con người thì cảnh này trở thành kỳ diệu, tượng này thành trang nghiêm thanh tịnh, khiến chúng ta hình dung bức tượng trong thau nước là Đức Như Lai đứng trên tòa sen và chúng ta tắm Đức Như Lai này.

Bấy giờ, tượng Phật chính là vật tiêu biểu cho trí huệ quang minh, “Trí huệ quang minh tọa bảo đài” và có công năng “Ngũ trược chúng sanh đều rửa sạch. Không còn sanh tử ở trần ai”.

Chúng sanh có năm thứ trược, hay năm điều ô uế là thế giới Ta-bà kết hợp những người có năm thứ này. Một là kiến giải không đồng, thấy khác nhau nên tranh giành, sát hại nhau, là chúng sanh. Ta-bà hiện ra vì thấy khác, chấp khác, gọi là “kiến trược”.

“Kiếp trược”, kiếp là một thời kỳ. Ở thời Chánh pháp, công lý được phổ biến, nhưng kiếp trược thì công lý không được công nhận, mà sức mạnh làm chủ, nên nạn bè phái, tranh chấp hoành hành.

“Phiền não trược”, “chúng sanh trược” thì tất cả đều khổ đau vì chống đối nhau, hại nhau và rơi vào cùng tột khổ đau, không bằng lòng cả chính mình, dẫn đến cuộc sống không còn lối thoát, vì phiền não bao vây kín mít là “mạng trược”.

Nhưng nhờ làm lễ tắm Phật ngự bảo đài, chỉ nghĩ về Phật, không nghĩ đến chúng sanh, nên tự nhiên chúng ta dẹp được phiền não và xa lìa trần cấu, thì:

“Không còn sanh tử ở trần ai”.

Nghĩ đến Phật, gắn tâm mình nối liền với tâm Phật một cách mật thiết, phiền não trần lao biến mất. Nếu  chúng ta trụ mãi tâm thuần tịnh này, dĩ nhiên chúng ta dễ dàng thành Phật một cách nhanh chóng. Nhưng thực tế hiếm có người giữ được niệm trong sạch này một cách liên tục, chỉ nghĩ đến Phật trong một khoảnh khắc, một niệm tâm thôi, nên chỉ được thanh tịnh trong giây phút ngắn ngủi ấy, rồi lại trở về với tâm niệm điên đảo của chúng sanh.

Phật không còn sanh tử; chúng ta thì trái lại, ở trong sanh tử. Đa số người đã hiểu như vậy là không đúng. Phật không sanh tử, chúng ta còn sanh tử; như thế, giữa Phật và chúng ta cách biệt. Tu Pháp hoa không hiểu như vậy.

Vì thế, trong đoạn hai của bài kệ tắm Phật có nói rõ ý này tương ưng với phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16 của kinh Pháp hoa.

“Phật cũng không sanh Ca Tỳ La
Cũng không nhập diệt Câu Thi Na
Không sanh không diệt là chơn Phật
Xứng danh giáo chủ cõi Ta-bà”.


Theo lịch sử ghi nhận, Đức Phật sanh ở Ca Tỳ La và nhập diệt ở Câu Thi Na; nhưng nay lại nói Phật không sanh ở Ca Tỳ La và không nhập diệt ở Câu Thi Na. Đây chính là cốt lõi của kinh Pháp hoa, phẩm Như Lai thọ lượng, theo đó Phật không sanh diệt là chơn Phật. Nếu Phật có sanh diệt, là Phật chết rồi thì chẳng lẽ không còn Phật hay sao?

Chơn Phật không sanh diệt, nhưng chúng ta bị vô minh, vọng kiến ngăn che, nên mới thấy Phật có sanh diệt, nghĩa là thấy Ngài sanh ra trên cuộc đời và Ngài không còn sống nữa. Nếu chỉ thấy như vậy là cái thấy biết đơn giản, không đúng, là cái thấy ảo giác theo cuộc đời, nên Đức Phật thường nói cuộc đời này là ảo mộng, không thật. Nghĩa là cuộc đời thay đổi không cùng, tất cả mọi người làm đủ thứ rồi biến mất, mà kinh cũng thường diễn tả là mộng huyễn bào ảnh.

 Chính vì lý do đó, Phật dạy rằng người tu Pháp hoa không phải là người ở trong cuộc đời thấy cuộc đời (Bất như tam giới kiến ư tam giới). Còn thấy như người trong cuộc đời là mộng tưởng điên đảo, thì hay giận, buồn, lo, sợ.

Vì thế, người còn giận là còn sống với vọng tưởng điên đảo, tự biết không phải là hành giả Pháp hoa. Người hay sợ, nhất là sợ chết, nhưng thân này tất yếu phải chịu sự chi phối của sanh diệt, có sanh phải có chết, không thể khác. Chết là việc quan trọng nhất của con người, mà chúng ta không sợ, thì những việc khác có gì mà phải sợ.

Còn nói đến lo thì đa số người lo nghèo, đói, khổ…; đó là việc không đáng lo. Vì như đã nói tất cả mọi việc trên cuộc đời này là mộng ảo phù du, người giàu có quyền thế đã có đủ thứ mà họ có tồn tại mãi đâu. Việc đáng lo nhất là lo ra khỏi thế giới sanh tử luân hồi, để trở về cội nguồn của chúng ta là thế giới Phật.

Ở thế giới Phật mới là chánh, ở đây là phụ.

Việc của chúng ta là nhắm đến cái gốc không còn sanh tử. Vì thế, chúng ta sợ nhất là sợ kẹt trong sanh tử, trong vô minh. Vì chúng ta nhìn sự vật không chính xác, nên nghĩ tưởng đủ thứ, không bao giờ đúng, mới buồn phiền, khổ đau, thất vọng, nghĩa là sống với thế giới sanh tử.

“Hôm nay mùng tám tháng Vê Sa
Xuất hiện trên đời Sĩ Đạt Ta
Chín rồng phun nước từ Thiên ngoại
Bảy bước chân đi bảy đóa hoa”.


Vì chúng ta sống trong cuộc đời ảo mộng, nên Phật cũng phải hiện thân vào thế giới này để cứu độ chúng ta. Nếu Phật không xuất hiện trên cuộc đời, tất cả mọi người làm sao biết Phật là gì.

Phật không sanh diệt là Phật chân thật, nhưng không ai thấy, không ai biết; cho nên nhờ Phật mang thân người trên cuộc đời mà chúng ta hình dung ra Phật.

Phật xuất hiện với tư cách của con người toàn thiện, không khổ đau. Dù Ngài là con người mang tên Sĩ Đạt Ta, nhưng cuộc sống của Ngài thể hiện rõ nét tất cả những gì đáng quý nhất. Trong con người Phật, từ cấu trúc cơ thể khỏe mạnh, thông minh, tướng hảo trọn lành, cho đến sự hiểu biết tuyệt đỉnh, tâm lượng đại từ bi, vị tha vô cùng, việc làm lợi ích vô tận cho tất cả chúng sanh, v.v...


Nhờ sanh thân Phật hiện hữu mà chúng ta nhận ra được Báo thân Phật kết hợp toàn những điều quý báu như vừa nói. Vì thế, chúng ta kính trọng Phật là kính trí tuệ và đức hạnh của Ngài.

Phật là biểu tượng của sự hiểu biết chính xác cao tột để chúng ta nương theo, mới nhận ra được Phật chân thật vĩnh hằng. Trí Giả đại sư diễn tả ý này là “Vị liên cố hoa”, nghĩa là Phật thật ví như gương sen bên trong, Phật hiện thân trên cuộc đời ví như hoa sen bên ngoài. Hoa sen từ bùn sanh ra, tỏa hương thơm tinh khiết mà các loài hoa khác không có được.

Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời tiêu biểu cho sự trong sạch hoàn toàn như hoa sen mà không một bậc Thánh nhân nào có thể sánh bằng và Đức Phật tinh khiết như gương sen nhờ cốt lõi tâm trọn lành của Phật thật. Từ Phật gốc toàn thiện, toàn mỹ, toàn bích như vậy mới thể hiện lời nói và việc làm thánh thiện của Phật bằng xương thịt hiện hữu trên thế gian. Nhờ tâm Phật đặt vào thân Thái tử Sĩ Đạt Ta, nên đã biến đổi thân thái tử thành thân Phật, nhưng người ta cứ tưởng lầm thái tử là Phật.

Thái tử Sĩ Đạt Ta, hay Phật Thích Ca có xuất hiện trên cuộc đời và có từ giã cõi đời, nhưng nhờ tâm Phật ẩn chứa bên trong, nên Phật thật không chết, mà tồn tại vĩnh hằng.

 Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phân biệt công đức thứ 17, Đức Phật bảo Di Lặc Bồ-tát rằng nếu có người nào sanh một niệm tín giải thọ mạng dài lâu của Đức Như lai thì sẽ được công đức nhiều hơn công đức của người bố thí, trì giới, nhẫn nhục trong tám mươi muôn na-do-tha kiếp. Nếu hiểu ý nghĩa thọ lượng Như Lai thì có thể được phát sanh Phật huệ Nhứt thiết chủng trí, lại có thể thấy Thích Ca Như Lai ở Kỳ Xà Quật thuyết pháp giáo hóa chúng Đại Bồ-tát và thấy thế giới Thật báo của Lô Xá Na.

Nghĩa là người hiểu được Phật thật đi vào sanh thân của Sĩ Đạt Ta và Phật thật đó ra khỏi Sĩ Đạt Ta, là đã nhận chân được Phật không sanh diệt. Và chúng ta nương theo Phật không sanh diệt để tu, theo công đức và trí tuệ của Phật thật đó để phát huy hiểu biết và đạo hạnh của mình; nói cách khác, nhìn sanh diệt mà hướng về Vô sanh, về Niết-bàn.

Người có trí hiểu được Phật thật hiện vô Sĩ Đạt Ta và khi thân Sĩ Đạt Ta già rồi, thì Phật thật ra đi. Thân người ví cho nhà ngũ uẩn, nhưng nhà này hư mục, chúng ta bỏ đi và đến nhà khác ở.

Người khôn chỉ ở tạm nhà ngũ uẩn, họ làm việc tích lũy được một số tiền lớn, thì nhà mục, họ mua được nhà khác sang trọng hơn để ở. Cũng vậy, linh hồn chúng ta trong sáng và có phước đức, chúng ta phải có thân xác tốt. Linh hồn chúng ta xấu ác sẽ có xác thân xấu xí. Linh hồn tốt ví như người giàu có, phải mua nhà tốt ở.

Chúng ta hành Bồ-tát đạo tạo được nhiều công đức, khi nhận thấy thân này sắp hư hoại, chúng ta tạo thân khác tốt hơn để tiếp tục công việc hoằng hóa độ sanh.

Đức Phật nói Ngài thành Phật ở chỗ này thì có tên này, thành Phật chỗ khác có tên khác; nghĩa là Phật có phước báo rồi, Ngài sử dụng phước đó để tạo nhà ngũ uẩn ở đâu cũng được. Ví như người có tiền tìm nhà tốt ở khu an ninh, sang trọng để ở. Chúng ta nghèo phải vào xóm nghèo, phải chấp nhận sống chung với những người hung ác, trộm cướp, v.v…

Trên bước đường tu, khi thọ thân ngũ uẩn, chúng ta coi nó là chỗ tạm nương náu để tạo công đức. Nhưng thân này hoại rồi, phải bỏ nó mà không có chỗ khác ở thì tinh thần mê mờ sẽ dẫn đường đưa lối, chỗ nào cũng chui vô đại, chỗ ở của heo gà chó… cũng vô, vì đâu có điều kiện để lựa chọn.

Cần hiểu rằng tạm mượn thân ngũ uẩn, nhưng quan trọng là chúng ta được gặp Phật pháp, nương theo Phật pháp tu hành, nương theo thầy hiền bạn tốt để khai ngộ cho chúng ta làm quyến thuộc Bồ-đề, để giúp chúng ta tạo các thắng duyên khác.

Vì được làm bạn với Bồ-tát mười phương, các ngài mới giới thiệu cho chúng ta vùng đất tốt đẹp, an lành. Đó là Tịnh độ của chư Phật mười phương có rất nhiều, nhưng chúng ta không biết. Các Bồ-tát chỉ cho chúng ta những nơi an lành ấy.

Tu Pháp hoa là nương các vị này dẫn lối đưa đường cho chúng ta đi đến những nơi an lành; nghĩa là bước đường tu của chúng ta đã có định hướng, nên bỏ xác rồi mới đến đó được. Nhiều người niệm Phật A Di Đà, nhưng ít người được về Cực lạc là vậy. Phước đức thế nào mới vào thế giới Phật được.

Kỷ niệm mùa Phật đản PL.2561 - DL.2017, cầu mong Tăng Ni, Phật tử luôn hướng tâm đến Đức Phật bất sanh bất diệt, sống với Phật Báo thân vĩnh hằng bất tử để nuôi lớn Báo thân của chúng ta, để xây dựng cõi Tịnh độ an lạc ngay trên cõi nhân gian này.

Theo vuonhoaphatgiao

Chủ tịch nước chúc mừng Phật đản Đức Pháp chủ

Chủ tịch nước chúc mừng Phật đản Đức Pháp chủ

Nhân dịp Lễ Phật Đản Phật lịch 2561, Dương lịch 2017, ngày 4/5, tại chùa Viên Minh (xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội), Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã tới thăm, chúc mừng Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ - Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cùng chư tôn đức Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 


Cùng tham dự với Chủ tịch nước Trần Đại Quang có lãnh đạo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an. 

Tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã gửi lời chúc sức khỏe tới Đức Pháp chủ GHPGVN - Trưởng lão HT.Thích Phổ Tuệ và chư tôn đức giáo phẩm lãnh đạo GHPGVN nhân mùa Phật đản 2017.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và nhà nước, Chủ tịch nước đã ghi nhận những đóng góp của GHPGVN: đã luôn đồng hành cùng dân tộc.Ông Trần Đại Quang cho biết, Đảng và nhà nước luôn đánh giá cao sự đóng góp to lớn và trực tiếp của GHPGVN cùng các tôn giáo khác nói chung và đặc biệt là Phật giáo nói riêng trong sự phát triển của đất nước.

Chủ tịch nước mong muốn GHPGVN dưới sự lãnh đạo của Đức Pháp chủ sẽ tiếp tục phát huy các truyền thống tốt đẹp, nhằm xây dựng Giáo hội ngày càng vững mạnh, thực hiện đúng phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - CNXH”. Đảng và Nhà nước rất quan tâm, ủng hộ các hoạt động của Giáo hội với tinh thần hộ quốc an dân  nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì hạnh phúc của muôn dân góp phần vào sự phát triển của xã hội - Chủ tịch nói.

Đặc biệt, kỷ niệm ngày Đản sinh năm nay cũng là năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, Tăng Ni và Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam đoàn kết, tập trung trí tuệ cùng nhau tổ chức thành công Đại hội đại biểu Phật giáo cấp tỉnh, thành phố, tiến tới Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VIII (2017 - 2022), cùng chung tay xây dựng đất nước hòa bình, an lạc.



Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến thăm, chúc mừng Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ nhân dịp Đại lễ Phật đản. Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN
Hiện nay, cả nước có khoảng 50.000 tăng ni, trên 17.000 cơ sở thờ tự và trên 12 triệu tín đồ phật tử có điệp Quy y, hàng chục triệu đồng bào yêu mến và tin quý đạo Phật đang sinh hoạt tại các hội quy và đạo tràng các tự viện. 

Phật giáo là tôn giáo có đông tín đồ nhất trong các tôn giáo tại Việt Nam. Phật giáo cũng là tôn giáo có lịch sử phát triển lâu đời nhất tại Việt Nam so với các tôn giáo khác. Đặc biệt hơn, Phật giáo Việt Nam có truyền thống “Hộ quốc an dân”, “đồng hành cùng dân tộc” qua các thăng trầm và biến cố của lịch sử, nên văn hóa Phật giáo thấm nhuần với văn hóa dân tộc, có vai trò cộng sinh và tương hỗ cấu thành nền văn hóa dân tộc Việt Nam. 

Trong nhiệm kỳ VII (2012 - 2017), Giáo hội Phật giáo Việt Nam tập trung vào các nhiệm vụ Phật sự trọng yếu. Đó là kiện toàn và phát triển tổ chức Giáo hội; công tác Tăng sự; công tác giáo dục đào tạo tăng ni; công tác hoằng dương chính pháp; công tác văn hóa Phật giáo: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc; công tác nghi lễ Phật giáo; công tác hướng dẫn phật tử; công tác từ thiện xã hội; công tác nghiên cứu Phật học; công tác đối ngoại Phật giáo; công tác truyền thông Phật sự; công tác kinh tế tài chính; và công tác xây dựng bảo vệ Tổ quốc... Đến nay, 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc có tổ chức Đại diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã 2 lần đăng cai và tổ chức thành công Đại lễ Phật Đản Vesak Liên hợp quốc vào các năm 2008 tại Hà Nội và 2014 tại Bái Đính (tỉnh Ninh Bình). Qua việc tổ chức Đại lễ Phật Đản, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có dịp giới thiệu hình ảnh, hoạt động văn hóa, kiến trúc Phật giáo Việt Nam đến bạn bè thế giới, góp phần nâng cao vị trí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và của đất nước trên trường quốc tế.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến thăm, chúc mừng Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ nhân dịp Đại lễ Phật đản. Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Đại Quang trân trọng gửi tới Đại lão Hòa thượng, chư tôn đức, các đại biểu và qua Đại lão Hòa thượng gửi đến toàn thể tăng ni, đồng bào phật tử cả nước lời thăm hỏi ân cần, lời chúc mừng nhân dịp Lễ Phật Đản Phật lịch 2561, Dương lịch 2017. 

Chủ tịch nước ghi nhận, đánh giá cao, trân trọng biểu dương và chúc mừng những kết quả, đóng góp thiết thực, đầy ý nghĩa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và toàn thể tăng ni, phật tử trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước thời gian qua.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh, gần 2.000 năm có mặt trên đất nước Việt Nam, đạo Phật đã khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc. Trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, với truyền thống yêu nước, Phật giáo Việt Nam luôn lấy đức từ bi, hỷ, xả, chân - thiện - mỹ để giáo hóa chúng sinh, đề cao tinh thần “Hộ quốc, an dân”, đồng cam cộng khổ, phục vụ Tổ quốc và có nhiều đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. 


Lịch sử Việt Nam ghi nhận, tri ân những nhà sư có đức, có tài đã đứng ra giúp nước, cứu dân, tiêu biểu là Đại sư Vạn Hạnh, người có công giúp Vua Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống và cũng là người khuyên Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long để tính kế lâu dài cho muôn đời con cháu; Thiền sư Khuông Việt được phong Quốc sư vì có công giúp nhà Đinh và nhà Tiền Lê gây dựng cơ đồ... 

Nối tiếp dòng chảy truyền thống 2561 năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay đã thông qua hoằng dương Phật pháp vận động tăng ni, phật tử cả nước sống trong chính tín, chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, nêu cao đạo đức, thuần phong, mỹ tục, tích cực lao động, sản xuất, hoạt động từ thiện, xã hội, đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn... 


Những hoạt động giàu tính nhân văn đó đã góp phần khơi dậy tinh thần trách nhiệm, tình cảm tương thân tương ái, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới xây dựng xã hội tốt đẹp, văn minh, hạnh phúc trong nhân gian. Qua đó, khẳng định Phật giáo Việt Nam luôn gắn đạo với đời, có truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, bảo đảm sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật, tạo điều kiện để đồng bào có đạo và chức sắc các tôn giáo, trong đó có Phật giáo, thực hiện tốt hoạt động tôn giáo chân chính và làm tròn bổn phận của công dân đối với Tổ quốc.

Năm 2017 này có ý nghĩa đặc biệt đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là năm diễn ra Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2017 - 2022. Đây là dịp để Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổng kết, đánh giá công tác Phật sự nhiệm kỳ qua, đề ra phương hướng công tác Phật sự nhiệm kỳ tới và đặc biệt sẽ suy tôn, suy cử Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ mới. 


Trên tinh thần này, Chủ tịch nước Trần Đại Quang mong muốn, với trọng trách của mình, Đại lão Hòa thượng tiếp tục lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam đoàn kết, thống nhất, tổ chức thành công Đại hội, đồng thời chỉ dẫn tăng ni, phật tử thực hiện tốt phương châm hoạt động Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội, tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Theo PGVN-PGNĐ